Gửi N.

Gửi N. (1)

 

Phải chăng chúng ta đang tìm kiếm những thứ đã mất mà những phế tích chỉ gởi lên sự mơ hồ về đường nét, hình dạng trong sắc thái riêng biệt của nó, và sự thân quen của chúng ta? Phải chăng chúng ta vẫn là kẻ mộng du cố vớt lên những xác chết, những cái xác mà có khi âm hồn của nó lảng vảng trong tâm thức chúng ta? Bạn đang nói về thứ văn hóa, cái văn hóa đã khiêu khích chúng ta va chạm trong cuộc tranh hùng để bảo vệ, để bành chướng! Cái văn hóa đã làm đắm chìm một đất nước, đã bôi lên lịch sử bởi vết đen của những giọt máu đã khô, đã và đang làm nhục tuổi trẻ của chúng ta bởi trò sân khấu rẻ tiền và quái trạng hiện giờ của nó! Chúng ta, những mảnh vụn tái chế, phô trương hình hài, tiếng nói – làm vật hiến tế cho cuộc chơi cuối cùng. Tôi không tham dự và thuộc về.

 

Đối với quá khứ đã lặng thinh, loài người luôn cố moi móc để làm tổn thương nó. Cái mà ta gọi là lịch sử, như câu nói của B.Brecht: “Bao giờ cũng là người chiến thắng viết lịch sử của những dân tộc chiến bại.” – đã cho chúng ta một niềm tin ngây ngô, đã biến chúng ta thành kẻ dại khờ - Và đến lượt nó, nó đang chế giễu cho sự đần độn của chúng ta – nó khiến chúng ta hoang mang về cội nguồn, nó khiến chúng ta lạnh nhạt trong đời sống thường nhật – nghĩ về nó, chúng ta cứ ví mình như bậc minh triết đứng trên bục đài cao nhất – nhìn thế giới như băng phiếm đang tan bởi hơi nóng của nắng và gió bụi trên mảnh đất quê hương như miếng da báo với từng cụm người Chăm đang trú. Đôi lúc tôi cố tạo ảo giác trong cơn say để quên đi về hiện trạng mà sự chân thật chỉ góp phần đẩy tôi vào chốn côi cút, trở thành kẻ nhược tiểu ngạo mạn không tiếng nói, không quyền lực. Đôi lúc tôi bỏ be tất cả lang bạt như kẻ điên để quên đi mình là ai, mình từ đâu đến và mình sẽ là gì sau này – Ôi! Những câu trắc ẩn cũ rích.

 

Trong thói đời vô thường. Trước một xã hội đã sản sinh ra những xác chết. Trước lý tưởng đã vùi dập, đã làm nhục trong chính cái nôi của tuổi trẻ - tuổi trẻ của tôi và bạn – ta nâng đỡ những giá trị trong niềm kiêu hãnh ngốc nghếch để rồi nuối tiếc, than trách. Tôi giãy giụa như kẻ điên trước cơn đau của ung nhọt, cái vây vẩy của sự tuyệt vọng – trong lầm lạc và dối trá của giáo dục về cội nguồn và nhân tính. Theo cách mà chúng ta trông ngống hiện nay một vết tỳ nhỏ cũng khiến chúng ta nản chí. Theo cách mà chúng ta đi đứng hiện nay một cơn gió nhẹ cũng khiến ta lay đổ. Theo cách mà chúng ta nhìn-nhận hiện nay một niềm tin cũng khiến chúng ta tan loãng. Cũng bởi lẽ, chúng ta không còn phản ứng gì nữa, chúng ta mệt mỏi, chán nản, run sợ - chúng ta lao vào cuộc vớt lên niềm an ủi bằng vật chất và tiền tài – với nó, làm ta vơi đi mọi thứ, kẻ cả việc làm phai nhạt chúng ta, đánh mất chúng ta – nhưng dù sao cả bạn và tôi cũng nên chấp nhận một hiện trạng – rằng: vẫn còn sự ưu ái nhỏ từ phía con mắt luôn dõi theo chúng ta, vẫn còn sự đụng bộ nhỏ khi ai đó muốn chạm vào cái xác chết, cái oan hồn còn đang lai vãng với chúng ta, vẫn còn hơi thóp nhỏ để chúng ta trợn mắt, to tiếng hay vung tay lên biểu quyết để gây sự chú ý về cái chết chung cuộc. Vẫn còn. Tôi kêu gào lên như kẻ đãng trí.

 

Bây giờ con đẻ của chúng ta đang cưu mang là một quái thai trong hiện trạng xáo trộn, ô hợp, dung tục. Chúng ta lao vào giấc mơ chung chả không gốc gác. Đôi lúc chúng ta như kẻ tâm thần – nhìn nó, độc thoại và kiêu hãnh. Đôi lúc chúng ta dựa lưng vào tàn dư của nó để bay bỗng không chân trời. Nhưng lẽ thường, thì chúng ta đang quay lưng với nó. Lạnh lùng, không thương tiếc.

 

Cái văn hóa đang la hét với gió bụi – trên những ngôn từ như nấm mồ chôn xác nó - ở trang báo lá cải, thư viện, viện bảo tàng. Và chúng ta, kẻ nhai nghiến, xé xác, phanh thay không khoang nhượng. Cái văn hóa đang la cà với đám dân đen đầu tất mặt tối – chúng ta đem beo nó trên sân khấu, hô hấp nó bằng những tấm huy chương – để tạ ơn một bè phái góp tay siết cổ. Cái văn hóa đang giãy giụa trong nghĩa trang, đám tang, lễ hội – chúng ta mặc nó nhảy nhót trên bàn tay những kẻ thô bạo, những óc não bệnh hoạn.

 

Ôi! Đã qua rồi thời đại của những sát nhân, đã qua rồi thời đại của những thân phận nhỏ giọt máu và nước mắt buông tiếng rên rỉ trong đau thương, bi lụy – trước cơ cấu của máy móc tôi nở nụ cười để cầu nguyện cho họ - không oán hận, không hi vọng.

 

Ôi! Bạn của tôi. Đời sống luôn gởi cho chúng ta những khúc mắc và bài học. Luôn là mối hiểm nguy cho cả bạn và tôi, trong cái hiện sinh của đời sống, sự lạnh lùng của thời gian và sự vị kỷ của lòng người. Mong bạn bình an.

No votes yet

Bài bình luận

Gửi N (4)

Gửi N (4)

 

Những gì trôi qua, tuột mất – và tới lượt tôi, kẻ mang hình hài giữa thời tạm cuộc, tay trái nâng lên ly rượu cười giễu cuộc đời mình. Giờ đây, cơn say đã thấm vào da thịt, cơn say đã thấm vào tâm hồn và, cơn say cũng khiêu khích tôi trước thời cuộc – choáng ngợp, đảo điên để đêm về tôi co lại như loài thú – lúc tỉnh nhất lại là lúc đang ngủ. Thời gian như là cái biến thể của cuộc sống, một góc hẹp hơn, như là ảo ảnh của con người tôi – cùng đích không là cái sống, cũng không là cái chết – nó thuộc về nơi tôi muốn hướng tới, cái ý của tôi muốn thế, sự thể hiện, dục tính, cuồng trí,… Tôi vẫn cười mỉm.

 

Nơi đã sản sinh ra tôi, Cakleing: Palei của những câu truyện cổ tích và mảnh vỡ văn minh Champa; Palei của những khung cửi và đầu óc phiếm loạn. Đêm nay, hiện lên trong tôi về nó là cái phông nền của văn hóa cụt quề trong một thế hệ thiếu niềm tin; thế hệ của sự thờ ơ trước hiện thực; thế hệ của những chối từ, bỏ rơi; thế hệ của những bóng tối và cô đơn, thế hệ của những mất mát rơi trên đầu; thế hệ của những mê lộ dẫn bước; tôi vắt cạn mình để sống và hoài niệm – dù thơ văn tôi viết chả là cái quái gì hết. Khi mà quá khứ là ác mộng, hiện tại là nỗi sợ, tương lai là những lời dọa nạt tôi quê kệch lắm khi thể hiện sự kiêu hãnh ngốc nghếch này. Thế nên người đời đã có lý khi chỉ cho tôi biết phương thuốc để tự đầu độc mình dù họ không thèm điểm danh sự có mặt hay vắng mặt của tôi bao giờ. Tôi vẫn cười – cả người đời và tôi.

 

Hôm nay, cái mà bạn gọi là “đã thích nghi với đời sống” đã cho bạn ảo tưởng về chính nó. Trong cuộc chiến với ảo tưởng đã và đang khiến bạn mỏi mệt, chán nản; cái mà bạn gọi là trải nghiệm trong nguy khốn và lọc lừa – cũng đã và đang giữ tư thế đứng thẳng của bạn – cái tư thế để bạn suy diễn về kiểu “tư tưởng trang trí” – tiêu thụ bề mặt để rồi đặt dấu chấm hết. Như bạn biết, hình ảnh truyền thông đã làm tê liệt cảm giác, chai sản giác quan; không gian riêng của mỗi con người càng trương phình, không biên giới, nếm con người văng ra ngoài lịch sử trong lầm lẫn của không-thời gian. Bạn và tôi, như sự đời mà người đời thêu dệt – đến với nhau chính sự lầm lẫn đó; giữa hình và tiếng; âm và sắc – cái cách mà truyện cổ tích đã thể hiện để giáo dục con trẻ “trong khi con người thứ nhất là một vụ việc, con người thứ hai lại là một tấm gương” – xưa cũ quá phải không bạn? Cakleing tôi vẫn tôn vinh cái đẹp, người tốt, việc tốt; hành thiện chống xấu, ác đấy. Chính vì thế xét về mặt nào đó – khi đặt lợi ích danh và quyền lên trên ai cũng muốn nhân danh sự hiểu biết, cái tốt, cái đẹp để phát ngôn và truyền bá – hay biến mình thành pho tượng đá – có những tiếng vỗ tay tung hô của đám đông xen lẫn những tiếng cười vui thú; tệ hãi hơn nữa, là sự việc và đám đông lại tạo nên một thế lực để nhân danh đạo đức xã hội, có tuyên dương và trừng phạt. Tôi đứng đó phì cười – không phải là cái cười nhạo để biến người đời thành con vật khôi hài bởi tính ti tiện, cố chấp cũng không muốn cười vào cái khuôn phép muốn nhân bản con người, muốn tôi luyện, nặn tạc, muốn đeo lên khuôn mặt người thứ mặt nạ trong suốt – đầy giả tạo. Tôi cũng không muốn cười thứ đạo đức vì cố tạo dáng mà khẳng định tính yếu đuối, tính bất lực của con người trước đồng loài, hay trước hiện thực đời sống. Tôi cũng không muốn cười thứ đạo đức của khuôn mẫu đã kiềm hãm, đã cầm tù con người. Ở đây ngay cả tiếng cười của trẻ thơ – hồn nhiên và ngây ngô tôi cũng không muốn nói đến. Cái tôi muốn nói cái cười có thể làm con người ta câm lặng; cái cười khiến con người ta nổi loạn tha hóa; cái cười có thể hạ gục một con người; cái cười có thể kết tội tìm đến cái chết trong danh dự và tự trọng. Đã từ lâu sở học về cái cười thuộc về con người – loài vật thượng đẳng – đã dần đánh mất bản năng tự vệ. Cười – thứ dao động của những nghịch lý sự kiện giữa cái muốn diễn đạt bằng luận lý và sự tự chủ; giữa cái muốn phô diễn để bộc lộ và cái muốn che giấu mình hay trốn chạy trước thế giới. Con người ta sẽ dứt tiếng cười – hay vẻ nhăn nhó chua ngoa như Lec nói: “Con người sẽ thôi cười khi biết mình là vật khôi hài”

 

Ấy thế, tôi lại cười khinh vào khuôn mặt mình.

"Phải chăng chúng ta chưa hoàn toàn thất bại ở niềm tin!."

Gửi N. (3)

Gửi N. (3)

 

J.Dournes nói: “Những yếu tố trung tâm của bất cứ nền văn hóa hoặc văn minh nào cũng là ngôn ngữ và tôn giáo. ” Cái tôi muốn đề cập là ngôn ngữ, thứ tiếng mà ta đã và đang quay lưng khi đã tỏ vẻ được sự sáng sủa khuôn mặt khi giàu có hay tài giỏi; thứ tiếng khiến ta mặc cảm bởi vì nó thuộc sở hữu của đám thiểu số - mà lúc nào trong tâm thức của dân tộc lớn cũng dán nó là lạc hậu, chậm phát triển. Không, đó là thứ tiếng để ta thốt lên ở thuở thiếu thời; đó là thứ tiếng mà tổ tiên, ông cha, anh chị đã bày tỏ về tình yêu dân tộc, quê hương, đôi lứa; đó là thứ tiếng để trang điểm nét đẹp nền văn hóa, vẻ huyền diệu để dệt lên nền văn minh – thứ văn minh của một vương quốc cổ Champa đã bị băm nát, mà xác chết nó nằm dài trên mảnh đất xa lìa với đám dân của nó; có khi ngay cả trong lòng nó. Oái âm thay! Bây giờ chúng ta có quá nhiều nhân chứng sống, mà không làm sao nhân chứng đó nói lên cái ngôn luận cần nói? Tại sao ư! Phải chăng chúng ta chưa đủ thẩm quyền để nói về số phận của cái hơi thở mình đang hấp hối, phải chăng chúng ta còn đợi chờ sự cáo chung về cái chết – để chìm hẳn trong câm lặng? Có thể lắm! Có lẽ đôi lời của tôi lúc này cũng không cố gây hấn hay cố làm xôn xao bởi lẽ không viết giống ai cả, cũng không phải lên tiếng để phá bỏ đi những bức tường im lặng đang cầm tù chúng ta. Đành là thế, nhưng tôi vẫn muốn nói. Nói, có khi chỉ cho riêng tôi nghe. Âm thầm nghe, vì sợ ai đó rình để nghe trộm. Dù sao tôi cũng chấp nhận cả con người đang rình rập đó luôn.

 

Trong diễn từ Nobel, Tony Morrison đã cảnh báo về cái chết chung của ngôn ngữ. Loài người là kẻ chịu trách nhiệm. Về ngôn ngữ Chăm, ai có thể kết án trẻ con là những người giết chết ngôn ngữ của dân tộc họ, nếu không nói về sự chỉ dẫn, góp tay của những người lớn! Tôi biết rằng ngôn ngữ Chăm chỉ phổ cập hết cấp tiểu học cho con em của họ; và về sau vị trí của nó bị đảo lộn trở thành ngôn ngữ thứ hai, sau tiếng Việt. Bậc cha mẹ, có lẽ họ là những công nhân, viên chức – những người được gọi là tri thức Chăm – có vài người trong số đó vì ở phố thị lâu đã mất chứng bệnh tâm thần – ví von việc cho con mình theo học tiếng Phổ Thông sẽ làm cho nó thông minh hơn, lanh lợi hơn là gần gũi với tiếng mẹ đẻ của nó. Với thái độ lạnh lùng để quay mặt, chối bỏ họ đã không ngại ngùng ném những đứa con vào nhà trẻ, trường điểm ở phố thị để tách biệt với cái nôi của nó, xa lánh kẻ cả những người thân mà lúc nào cũng nâng niu con cháu mình bằng tiếng Chăm thân thương. Ai, ai sẽ chắc là học tiếng Chăm họ sẽ khiến những trẻ em đần độn, ngu dốt, chậm phát triển? Tôi cũng lấy làm lạ, khi chứng kiến một gia đình có người làm đến đại biểu quốc hội, đại diện cho đám dân Chăm ở Ninh Thuận – cả gia đình lại gặp và nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt ngay giữa lòng Palei Chăm – Ôi! Buông tiếng Chăm khi gặp nhau đáng xấu hổ đến vậy sao? Họ lãng quên tính thiểu số hay sao, họ nghĩ họ là ai – nếu không là Chăm? Có một lần tôi gặp một bé gái khoảng năm tuổi ở dưới quê Cakleing, tôi chỉ thấy em nói tiếng Việt – khi tôi hỏi bé: “Con không biết nói tiếng Chăm sao!” Bé trả lời: “Không, vì ở nhà ba mẹ không nói chuyện với con bằng tiếng Chăm.” Ôi! Số phận của tiếng Chăm, còn gì để ta hoài niệm và nói đến. Còn tôi, nếu có người hỏi: “Nếu cho anh sự lựu chọn, anh sẽ đưa ngôn ngữ Chăm về đâu?” – Trả lời: “Về phía nấm mồ.” Vì sao ư! Chăm tôi là thế, chỉ có cái chết của con người hay cái gì đó mới xuất hiện nhiều lễ tế nghiêm trang. Còn nếu ngôn ngữ của họ chết, tôi nghĩ lúc đó sẽ có những khuôn mặt hoành tráng mặc áo tang đứng thành hàng trong câm lặng; nếu cho phép nói hay đọc lời điếu tôi tin chắc họ chỉ có thể nói trong vô thức hay bài thuộc lòng; và tôi cũng tin chắc sẽ có một lực lượng đại diện cho ban ngành nào đó ghi ghi chép chép gì gì đó về nó để tỏ vẻ trí thức hay trục lợi; tôi cũng tin chắc sẽ không có nước mắt thương xót nào rỏ xuống – vì nếu có lỡ rơi nó cũng không nói lên điều gì thêm nữa. Muộn rồi.

 

Một câu hỏi cho bạn và cả tôi: “Có ai tìm được dấu vết của cội nguồn của mình qua trang viết chữ Chăm, bia ký hay những cuốn sách có biên soạn bằng chữ Chăm – nếu không là bản dịch qua tiếng Việt?” Về điều này, tôi chấp nhận ý của Nguyễn thành Thống đã hé mở rằng: “Chưa có ban khoa ngành nào ở tất cả trường đại học ở Việt Nam cho nghiên cứu sinh tìm hiểu về nó qua bia ký trên những di tích – mà tháp Chăm là điển hình.

 

Hai điểm tôi muốn nói lên về ngôn ngữ, chữ viết Chăm bây giờ, đó là:

 

-         Thứ ngôn ngữ được cưu mang như gánh nặng

-         Thứ ngôn ngữ được bảo – dưỡng như kẻ tàn phế

 

 

(còn)

"Phải chăng chúng ta chưa hoàn toàn thất bại ở niềm tin!."

Gửi N. (2)

Gửi N. (2)

 

Những nhà phân tâm học luôn ví von cái con chữ để lấp vào khoảng trống của những đoạn thất thường là nơi ẩn ức sâu kín của người cầm viết – cái đấy là mảnh đất của sự sáng tạo, theo tôi là vậy – Bởi lễ, từ lâu những gì xa lạ với tôi dần dần cũng trở nên thân quen – tôi ước lượng rằng cái khoảng không gian riêng đang chứa chấp tôi để phiêu diêu tự tại cũng chẳng khác mấy. Có khi tôi cảm mọi thứ quá xa lạ với mình – nhưng đó chỉ là sự chiếu lệch góc trong một thời điểm, nhưng về sau, sự trống rỗng mà nghi thức cuộc sống khiến tôi chối bỏ, đánh rơi đều ùa về làm choáng ngợp mọi giác quan. Tuổi thơ, cái thời đã dệt lên những kỉ niệm, cái sai lệch của thế giới nhân-quả bằng khoảnh khắc khó quên – những cuộc đời khiến tôi xao lãng những cái dị kỵ, những dấu vết hoang dã, nó buộc tôi phải làm quen với một thế giới mới – bóng bẩy và lô gích; trong cái sặc sủa của thuật ngữ về giá trị và ý nghĩa sống – thế giới buộc ta phải na ná như nhau về suy nghĩ và hành động. Nó tạo sức ép thiêu rủi cánh rừng hoang và tài nguyên của nó dù ở đó có rào chắn của luân lý và đội ngụ quân canh của nền giáo dục. Mọi hình thức đối kháng đều khiến ta luôn đặt mình trong tình trạng cô đơn.

 

Chính lẽ thế, tôi luôn luôn thù địch với thế giới vì sự khác lạ. Có khi tôi phải thốt lên trong đêm đặc queo rằng: “Thế giới này không thuộc về tôi – nó là ảo giác – những gì đang đến chỉ khiến tôi cố chịu đựng.” Bản năng ngủ quên bỗng vùng dậy – nó như muốn phá hủy điều gì đó như một mãnh thú cần phòng vệ trước sự sợ hãi và bất an đang đe dọa nó. Chỉ có hai lựa chọn: Hoặc chạy, hoặc chống. – Nhưng tôi ngồi đó, phết lên khuôn mặt thời đại bằng sắc màu tang trắng.

 

1.

Bây giờ, đứng trước một thế giới đã và đang đánh mất đi cái đẹp, cái thiêng liêng – bạn muốn tôi vớt lên cái gì – nếu không là nhập cuộc – chung vui? Bây giờ những mảnh vụn văn minh đã và đang đập nát tung tuế từng mảnh, nền văn hóa đang xuống cấp thậm tệ - bạn nghĩ tôi sẽ trội lên với cái gì – nếu không là đập nát cả “cái tôi” của mình để chìm theo nó?  Với nó, tôi không thể nhân danh một thẩm quyền nào để phê phán hay kết án – bởi lẽ tôi không biết kết cục của trò quá thái đó là gì? Đứng trước nó, tôi không cố để trở thành ai cả, và tôi cũng không cố để dạy đời ai cả. Trong các mối quan hệ, theo tôi: chỉ một phần thôi để nhận biết thế giới tôi đang tiếp xúc – còn phần lớn là dấu hiệu để nhận biết tôi. Những bí mật nơi tôi chưa được phơi bày; những vùng đất chưa được khai hoang; những viên ngọc chưa được gọt giũa. Với sự thôi thúc mù mờ tôi lộ nguyên hình bởi sự trải nghiệm và trí năng. Nếu không muốn nói đến đôi lần may mắn.

 

2.

Thế giới đã dạy tôi đủ điều, nhưng nó đã quên đi bản thân nó và cả con người tôi. Vì, những bài học đó đã khiến tôi xa lạ với chính tôi, nó khiến tôi phải mất dạng trong đám đông. Nó quên rằng tôi hiện diện chỉ để chống lại nó. Và nó đã phản ứng lại theo cách của tôi, như một bài học để trừng phạt tôi. Không cần vậy đâu bạn ạ! – Đừng nghi ngại sự phản ứng của ai đó để bảo vệ điều gì đó; đừng tỏ vẻ khó chịu khi va chạm với nó – với những gì khác biệt ở nơi bạn, và cũng đừng bám víu vào đó để tỏ vẻ hay đau khổ. Tôi không muốn mình bị mắc kẹt, hay bóp nghẹt bởi chính tôi, bởi cái ước mơ của tôi, bởi cái lý tưởng hảo huyền của tôi. Tôi cũng không cam đoan với ai về một niềm tin dễ dãi nào hết. Bởi lẽ, như bạn và tôi đều biết – mọi thứ rồi sẽ bị chối bỏ; mọi thứ rồi sẽ bị bỏ rơi trong một tiến trình vô thủy vô chung của đời sống. Còn những gì không phải thế, nó khiến ta phải chịu đựng, nó khiến ta phải gánh vác. Và dĩ nhiên – không trừ được tính cố chấp, nếu không muốn nói đến sự hèn mọn hay tính vị kỷ của chúng ta.

 

3.

Cái cách mà thế giới đã và đang bày ra những giá trị để dạy bạn cách vươn lên – bạn nghĩ là mình sẽ vươn lên đâu/ vươn lên để làm gì nếu không phải là để hủy diệt nó. Ở văn hóa Chăm – đã hình thành Tam Vật Nhất Thể cũng vì lý do đó. Vì sao ư! – Vì nó khiến bạn cần thoát ra cái vỏ bọc ngột ngạt của nó bởi dục vọng chinh phục đỉnh cao khác. Cái tính kiên nhẫn không thể chống mãi với bản năng của con người. Với cái đỉnh cao để dung túng sự nổi loạn này, tôi không nghĩ thời cuộc sẽ phân trò đúng/sai – vì nó không trụ lâu để công kích mãi bạn được. Từ xưa đến giờ đã minh chứng cho điều đó rồi – tôi không phân bua thêm nữa. Dại dột để cứu vớt cái gì đó đang trên đà suy thoái cũng là việc khẳng định sự phá sản của tri kiến chúng ta thôi. Cứ để mọi thứ hoán chuyển ngôi cho nhau – tái sinh trong nhau. Còn nếu nó khiến bạn run rẫy, hoang mang cho cái con đường bạn đã chọn và đi thì cái tinh thần đi vào đời đó có ý nghĩa gì khi mà thế giới bạn đang sống chỉ có thể do nhu cầu tâm-sinh lý tạo nên – Với nó, bạn giải nghĩa như thế nào về giá trị, ý nghĩa mà bạn đang theo đuổi?

 

4.

Cái ước muốn, muốn một cái vé để trở về, để bắt đầu lại cuộc hành trình đời sống cũng nhằm mục đích nắm chắc phần ít tổn thất nhất về sức sống và thời gian. Chính vì thế - đứng trước mọi thứ đã thuộc nhàu qua một lần đi, qua một lần ném trải giờ mù mờ ở phía trước, vì những gì tôi biết qua cái cảm khiến tôi phải dấn bước vào miền đất xa lạ trong đo lường, trong ước lượng – để tự vệ bản thân. Tôi không biết sao tôi lại mông lung đến thế, có lẽ là nỗi sợ - sợ phải mất mát, sợ bị chối bỏ - và cả việc sợ tôi đang ở vị trí nào trong thế giới này. Nhưng khi cầm viết lên như kẻ trở về, có một bí mật mà tôi không thể chối bỏ là, tôi muốn đi về phía nó, dù bỏ tất cả mọi thứ lại sau lưng – không cần nó nữa. Đi, và đi – về phía nó, có lẽ là tôi bị đẩy, cũng có thể là tôi bị hút – mà điều này rất hiếm để tôi biết đích xác. Nó như một dải sương mù bay qua vòm trời vô thức, cơn mơ. Không toan tính, không sợ hãi trước con đường không có bản chỉ dẫn. Nó, ở đó. Gần tôi như định mệnh.

 

Đó là vài thái độ để tôi viết.

"Phải chăng chúng ta chưa hoàn toàn thất bại ở niềm tin!."