Các nguồn tài liệu về các hoạt động kinh tế tại các vùng đất Khmer và Chàm

Claude Jacques
École Pratique des Hautes Études, Sciences Historiques et Philologiques, Sorbonne, Paris
Ngô Bắc dịch

Cho đến các năm gần đây, các học giả không bị thu hút nhiều mấy đến việc nghiên cứu cụ thể các hoạt động kinh tế cổ xưa tại Căm Bốt, hay ít nhất chỉ có ít bài nghiên cứu dành một cách đặc biệt đến đề tài này đã được ấn hành.  Các lý do cho sự kiện này được nêu ra: tài liệu gốc sẽ phải được ấn hành trước tiên, một khuôn khổ lịch sử được thiết lập, v.v…  Dĩ nhiên, đây không phải là các lý do không đúng, nhưng điều phải nói thêm rằng công việc nghiên cứu này rõ ràng sẽ rất khó khăn bởi các nguồn tài liệu, khi nhìn toàn bộ, đặc biệt xem ra khó để giải thích.

Xem bài viết

Về một lịch sử xã hội của cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam

Michael G. Cotter
Ngô Bắc dịch

     Tiến xuống miền Nam, hay Nam Tiến [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], là một đề tài quan trọng của lịch sử Việt Nam.  Các đề tài khác, chẳng hạn như ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa hay sự phát triển một quốc gia độc lập sau thế kỷ thứ mười, trong đường hướng của chúng, cũng quan trọng y như đề tài Nam Tiến trong việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam.  Tuy nhiên, Nam Tiến có tính chất độc nhất, bởi nó vượt qua nhiều thời kỳ khác nhau trong lịch sử Việt Nam – thời tiền Trung Hoa, thời lệ thuộc Trung Hoa, thời độc lập, thời thuộc đia và hiện đại – mỗi giai đoạn có chủ điểm riêng của nó.  Cuộc Nam Tiến cũng quan trọng bởi nó cung cấp cơ hội để tìm hiểu lịch sử Việt Nam trên các đề tài của chính nó chứ không phải như một bộ phận, thí dụ, của lịch sử thời thuộc địa Pháp.  Bất kể tầm quan trọng mà tác giả bài viết này tin tưởng nó có trong mình, bước tiến xuống miền nam tuy vậy không là đề tài của sự điều tra sâu rộng và của các ấn phẩm.  Chỉ có một ít các học giả, chẳng hạn như Pierre Gourou và Lê Thành Khôi, có cái nhìn vượt quá khuôn khổ thông thường của các nhật kỳ, các triều đại, và các cuộc chiến tranh để nêu ý kiến về sự hiện hữu của các sự thay đổi trong lịch sử Việt Nam phát sinh từ sự mở rộng các khu định cư tại vùng đất mới. (1)

Xem bài viết

Xã hội duyên hải trong sự thống hợp của vùng Thuận – Quảng, các thế kỷ 17 – 18

Bản Đồ Biểu thức của Bronson như được áp dụng cho Đàng Trong (cochinchina).  Giòng sống thống hợp vùng đất nội địa của nó bao quanh một hải cảng trung tâm ở vùng hạ lưu.  Mỗi khu vực bị phân ranh bởi giòng nước tượng trưng cho một tỉnh trong quốc gia của chúa Nguyễn.  Các con đường ven biển thống hợp các miền song song, và hoạt động như hành lang hay thông lộ duyên hải để liên kết các miền song song này.  Các thủy lộ trên biển nối kết các hải cảng với các thị trường nước ngoài.  Giống như các kẻ tiền nhiệm người Chàm, các chúa Nguyễn đã đặt định các trung tâm hành chính cấp miền của họ hơi lùi về phía thương nguồn, tại chân các ngọn đồi nơi mà các phụ lưu trong các hệ thống sông ngòi ngắn, dốc và chẩy xiết hợp vào nhau, trước khi chúng mau chóng tỏa rộng ngang qua một đồng bằng phù sa ở cửa sông.  Ngôi chợ trung tâm của miền cũng tọa lạc nơi đây; trong trường hợp của Hội An, nó nằm đối diện với dinh quân trấn.

Xem bài viết

Một cái nhìn từ ngoài biển: viễn cảnh bờ biển Bắc và Trung phần Việt Nam

Li Tana

Một nhận xét thú vị về sử ký Việt Nam là mặc dù bờ biển bao gồm gần một phần ba lãnh thổ Việt Nam, các sử gia đã nhất quán nhìn nó đứng sau cả một xứ Lào không bờ biển, như một thể chế đặt nền tảng trên đất liền vũng chắc trong số các xứ sở thuộc vùng lục địa Đông Nam Á. 1 Bài viết này thách thức cái nhìn chằm chằm đặt cơ sở trên đất liền hướng về phương bắc, thay vào đó, nhìn từ ngoài biển vào Việt Nam.  Như sẽ được trình bày bên dưới, Vịnh Bắc Việt là một phần nối dài và một phần liên hợp của một khu vực được gọi là Giao Chỉ Dương (Jiaozhi yang), một khu mậu dịch tích cực tọa lạc ngay ở trung tâm của Thông Lộ Tây Dương cổ xưa hơn (Xiyang Hanglutrong tiếng Hán) cho đến thế kỷ thứ mười lăm, và thường được tới lui bởi các nhà mậu dịch Hồi Giáo từ phía Nam, Tây và Đông Nam Á.  Khu mậu dịch này bao gồm bờ biển Quảng Tây quay mặt xuống Vịnh Bắc Việt, bờ biển Đại Việt, miền bắc xứ Chàm và đảo Hải Nam.

Xem bài viết

Về một số tượng thần Bàlamôn giáo trưng bày tại bảo tàng

  Phan Anh Tú
Đã đăng: Thông Báo Khoa Học năm 2001

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP. HCM (BTLSVN – TP. HCM) hiện lưu giữ nhiều sưu tập cổ vật quí hiếm thuộc các nền văn hóa nổi tiếng ở Đông Nam Á. Theo nguồn tài liệu của Bảo tàng Blanchard de la Brosse, phần lớn các sưu tập cổ vật trên do Hội Nghiên Cứu Đông Dương (Société Des Étude Indochinoises thành lập năm 1865) xuất tiền mua lại từ nhiều nguồn khác nhau. Một số do Bảo tàng cũ thu thập được trong các đợt khai quật khảo cổ tại Đông Dương, trong số đó có bộ sưu tập điêu khắc đá Champa (thế kỷ II – XVII) và điêu khắc đá cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long (thế kỷ VII – XII). Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến một số pho tượng thần Bà La Môn giáo (Brahmanism) thuộc hai sưu tập điêu khắc đá trên hiện trưng bày tại BTLSVN – TP. HCM. Xem bài viết

Sự biến đổi Bàlamôn giáo trong cộng đồng người Chăm

TS. Phan Quốc Anh
(Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Ninh Thuận)

Người Chăm Ahiêr (người Chăm Bàlamôn) là cộng đồng có số lượng đông nhất so với các nhóm Chăm theo các tôn giáo khác. Hiện có khoảng hơn 53 nghìn người, sống tập trung ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận (Panduranga), trong đó, ở Ninh Thuận có khoảng 38 nghìn, ở Bình Thuận có khoảng 15 nghìn người.

Xem bài viết

Lễ nhập Kút của người Chăm Bàlamôn

TS. Phan Quốc Anh
(Sở Văn hóa, du lịch và thể thao tỉnh Bình Thuận)

         Người Chăm Bàlamôn khi chết đều được làm lễ hoả táng. Trong  lễ hoả táng, khi lửa đang cháy, người ta lấy hộp sọ người chết ra, đục lấy 9 mảnh xương trán, giữ lại để sau này làm lễ nhập kút. Kút là nơi chôn 9 mảnh xư­ơng trán ấy của người chết, là nghĩa địa, là nơi thờ cúng tổ tiên của dòng tộc theo họ mẹ của ngư­ời Chăm Bàlamôn.

Xem bài viết

Hệ thống chủ lễ của người Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận

TS. Phan Quốc Anh
Sở Văn hóa, du lịch và thể thao Bình Thuận 

Theo báo cáo của Ban dân tộc miền núi tỉnh Ninh Thuận năm 2002,  ở Ninh Thuận có 61.359 người Chăm, cư trú tương đối tập trung ở 22 làng thuộc 12 xã ở 4 huyện, thị xã, đông nhất là ở huyện Ninh Phước với 48.137 người, ở huyện Ninh Hải có 10.319 người, ở huyện Ninh Sơn có 1.527 người, ở thị xã Phan Rang – Tháp Chàm có 1.376 người.

Xem bài viết

Bước đầu xác định danh hiệu các tiểu vương quốc

Trần Kỳ Phương

       Vùng cực Bắc Chiêm Thành [Champa] bao gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế hiện nay, nằm giữa đèo Ngang và đèo Hải Vân. Đây là vùng đất thường xảy ra giao tranh, xung đột giữa nhà Hán và Lâm Ấp trong thời kỳ Bắc thuộc vào các thế kỷ từ thứ 2 cho đến thứ 9; và sau này, giữa các triều đại Việt Nam và Chiêm Thành [Champa] trong các thế kỷ từ thứ 10 cho đến thứ 14.

Xem bài viết

Chất thiêng trong âm nhạc Chămpa

Thông Thanh Khánh

Chămpa, danh từ bắt nguồn từ một địa phương của Miền Bắc Ấn Độ xa xưa, đồng thời xuất hiện rất sớm nơi dải đất miền Trung Việt Nam thông qua một văn bản bia ký được tìm thấy tại Mỹ Sơn (Duy Xuyên – Quảng Nam) với niên đại 579 (Saka) tức 657 năm sau Tây Lịch.

Tuy nhiên tên gọi một vương quốc Chămpa này đã được biết đến một cách sớm hơn cả tấm bia Mỹ Sơn đề cập rất nhiều với tên gọi Nagar Campa. Campa (Chămpa danh từ thường thấy bia ký ghi nhiều hơn là Champa) một danh từ chỉ cho một loài hoa màu trắng ta thường gọi là hoa sứ hay hoa đại có tên khoa học là Michelia Champaca.1. Nhà sử học Ptolémée trong quyển sách địa dư của mình đề cập đến vương quốc này là Canf.

Xem bài viết

Lễ đổ đầu và Hội mừng năm mới của người Chăm H’roi

Nguyễn Văn Ngọc

Người Chăm H’roi là một bộ phận của dân tộc Chăm, sinh sống chủ yếu ở Bình Định và Phú Yên.

Lễ đổ đầu (Quoai chơ ruh a kơh) là một nghi lễ truyền thống của người Chăm H’roi được tổ chức vào cuối năm âm lịch, từ ngày 25 đến ngày cuối cùng của tháng chạp theo lịch Chăm.

Thoạt nghe tên gọi, chúng ta có thể liên tưởng đến một hình thức ma thuật để biểu hiện những ước vọng có tự ngàn đời, song nó hàm chứa ý tứ sâu xa. Người Chăm H’roi giải thích đó là một hiện tượng để tỏ ơn những “cái đầu” biết cách làm ra và sẽ làm ra cái ăn, cái mặc, cái để nối nghiệp lũ làng. Nếu ai được dịp chứng kiến phép đổ đầu của lễ Quoai chơ ruh a kơh, với chi tiết dùng máu gà tươi hòa với rượu cần đổ lên trán các thành viên trong gia đình sau khi diễn trình hành lễ chính thức vừa được kết thúc sẽ thấy được hình ảnh thể hiện sự sinh sôi nảy nở, biểu hiện tính phồn thực với ý nghĩa tạo ra mọi sự sống mới, theo cách nghĩ của người Chăm H’roi.

Xem bài viết

Về biểu tượng hoa sen trong điêu khắc Chăm

Hồ Thùy Trang

Hoa sen mang ý nghĩa biểu tượng đặc biệt trong văn hóa Việt Nam, nó xuất hiện trong các loại hình nghệ thuật: thi ca, sân khấu, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, trang trí. Nhiều quốc gia phương Đông khác cũng ưa chuộng hoa sen với đa dạng các nét biểu tượng khác nhau, nhưng phần lớn ở các quốc gia này hoa sen gắn với tôn giáo, với Phật (Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan…). Chính vì vậy, biểu tượng hoa sen được thể hiện rất nhiều trong điêu khắc Chăm.

 

Phù điêu thần Brahma trưng bày tại Bảo tàng Bình Định, một trong những vật cầm mang hình tượng hoa sen

Xem bài viết

Binah 5 di 10« Dahlau...34567...10...Puic »