Ghe Bầu Miền Trung

GHE BẦU MIỀN TRUNG
© Nguyễn Thanh Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh 2008

Với sự đồng ý của tác giả và Tạp Chí Nghiên Cứu và Phát Triển của Sở Khoa Học và Công Nghệ Thừa Thiên-Huế (đăng trong số 2 (67).2008 )

1. Nguồn gốc tên gọi 
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ghe bầu là biến âm của hai từ Mã Lai-Nam Đảo: “gay” và “pràu”. “Gay” có nghĩa là ghe thuyền và “prau” là thuyền buồm Mã Lai. (1)
Gay đồng thời có thể là biến âm của ghe và pràu biến âm thành bàu. Thuyền prao được từ điển Le petit Larousse ghi nhận một cách giản lược: “Những chiếc thuyền có cấu trúc phỏng theo thuyền prao của Mã Lai.(2)”
Còn thuyền prau của Mã Lai được từ điển Encyclopedia Britanica mô tả như sau: “Trong tiếng Mã Lai, từ prao hay prau là thuật ngữ chung dùng để chae tất cả các loại thuyền lớn, từ thuyền tam bản hoặc xuồng đến một loại thuyền buồm vuông. Tuy nhiên, theo ngôn ngữ phương Tây, từ prao hay prau được dùng để chỉ một loại thuyền chèo tốc độ mà những tên cướp biển tại Ấn Độ Dương đã thường xuyên sử dụng. Xem bài viết

Sinh Hoạt Của Người Chăm Ninh Thuận Trong Bối Cảnh Các Di Tích

SINH HOẠT CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN TRONG BỐI CẢNH CÁC DI TÍCH

Jaya Amil Apuei Sử Văn Ngọc

Văn hóa Chăm được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu bắt đầu từ thế kỷ XIX, đặc biệt là các nhà khoa học thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO). Rất nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về văn hóa Chăm đã được công bố qua sách báo. Đến năm 2002 có 2.278 công trình nghiên văn hóa Chăm về các lĩnh vực: lịch sử, ngôn ngữ, bia kí, khảo cổ, tôn giáo, phong tục tập quán, kiến trúc, điêu khắc…(1). Điều đó đã khẳng định văn hóa Chăm rất phong phú và đa dạng.

Trong bài viết này chúng tôi giới thiệu khái quát đặc điểm cư trú của người Chăm ở Việt nam, đặc biệt dựa trên tôn giáo, tín ngưỡng cùng với đội ngũ chức sắc, di tích cùng với hai dòng sông lịch sử và các lễ hội của người Chăm Ninh Thuận.
Xem bài viết

Ký sự mùa Rija nagar 2011

Hàng năm, cứ đến độ hoa Tagalao nở khắp núi đồi Panduranga là dấu hiệu báo một năm mới của người Chăm lại đến. Đây mới thực sự đúng nghĩa là cái Tết của người Chăm.

Trước đây, không biết vô tình hay cố ý mà có rất nhiều người (kể cả người Chăm chúng ta) vẫn thường hay lầm tưởng Katé hoặc Ramawan là Tết của người Chăm mà quên mất rằng năm mới của người Chăm là đúng vào dịp Rija Nagar này.

Xem bài viết

Món ăn bốn mùa của dân tộc Chăm

Món ăn bốn mùa của dân tộc Chăm

Đào thị Thanh Tuyền

Món ăn dân dã của người Việt Nam rất nhiều, những món ăn đặc trưng cho vùng miền thường gắn với giọng nói cũng đặc trưng của vùng miền đó. Tỉ như người miền Nam có món ba khía, người Huế có cơm Hến, người Bắc ăn mắm tôm, người Trung ăn mắm ruốc, người Nam có mắm thái… Riêng việc các loại rau ghép vào món ăn cũng làm nên những câu chuyện đặc trưng cho khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng miền đất và cả sự phát triển lịch sử, văn chương từ đó hình thành nên những câu ca dao, tục ngữ, các làn điệu dân ca… Xem bài viết

Du học – Cơ hội và Thách thức đối với sinh viên Chăm

Maylaka

Buổi họp mặt và trao đổi về chuyên đề “Du học –  Cơ hội và Thách thức đối với sinh viên Chăm” được Chi hội Dân tộc Chăm phối hợp với ThS. Bá Văn Tuy, Phó Khoa CNTT, Trường CĐ Tài Nguyên & Môi Trường Tp. HCM, diễn ra vào lúc 8h00’ ngày 12/6/2011, tại P.D 409, trường Đại học Mở, Tp HCM đã kết thúc và để lại nhiều suy nghĩ cho các bạn sinh viên, cựu sinh viên Chăm tham gia. Xem bài viết

Diều trong văn hoá tộc người Chăm

DIỀU TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CHĂM

ISVAN

Ngày nay người Chăm ở khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận vẫn còn phố biến rất nhiều các loại diều truyền thống. Thả diều không chỉ là một trò chơi truyền thống mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt trong một số nghi lễ của một số dòng họ của tộc người Chăm.

Người Chăm gọi diều là kalang, từ vừa đồng âm vừa đồng nghĩa với loại chim diều (hâu)Nhiều tộc người ở Đông Nam Á có tên diều giấy trùng với tên loại chim diều hâu như ở Campuchia, diều giấy và chim diều đều là Khlen, ở Malaysia gọi diều là layang, người Thái gọi là kula, người Mơnông gọi là Khang, người ÊĐê gọi là Hlang, người Raglai gọi là kala (kalat)… Ở người Việt, diều giấy và chim diều vừa là đồng âm vừa là cùng nguồn gốc. Diều có vị trí đặc biệt trong văn hóa Chăm nói riêng và nhiều tộc người ở Đông Nam Á nói chung. Xem bài viết

Ý thức về cộng đồng của người Chăm ở Việt Nam qua các trang web Chăm

Tác giả: Hưng Thiện
Hội đồng hương Chăm ra đời, thực sự là cầu nối cho dân tộc Chăm trên mọi miền đất nước xích lại gần nhau, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, các trang web của người Chăm lần lượt được ra đời và đây là kênh thông tin hữu ích nhất của cộng đồng dân tộc Chăm. Xem bài viết

Về làng Chăm vui lễ hội dân gian Rija Nưgar

By Đồng Chuông Tử

NC News – Rija Nưgar là một nghi lễ dân gian truyền thống đầu năm theo Chăm lịch, thuộc vào loại nghi lễ lớn nhất, tự tên gọi của nó đã toác lên điều đó. Rija có nghĩa là lễ, nưgar là xứ sở. Rija Nưgar được hiểu là lễ của xứ sở.Bản thân nó là Tết, tựa Tết Nguyên Đán của dân tộc Kinh, chứa đựng hầu hết những ý nghĩa tốt đẹp mà tất cả cộng đồng mong muốn được phồn thịnh về mọi mặt trong cuộc sống. Sau này theo thời thế, phần hội được bổ sung, lắp ghép lồng vào mảnh cuối của nghi lễ, mang tính chất “vui là chính”. Lễ hội tiễn đưa và thánh tẩy năm cũ, đón mừng, có tổ chức hát ca chúc tụng năm mới, gắn với nghi thức tôn giáo long trọng, linh thiêng và man mác thiền vị. Nó còn là “cánh cửa” đầu tiên mở ra một năm mới may mắn, lí tưởng, thuận hoà trời đất. Vì vậy nó vô cùng quan trọng, có thể là quan trọng nhất.Từ sau thời điểm vương quốc Champa bị xoá sổ, cộng đồng Chăm ít quan tâm đến, nếu có quan tâm thì việc tổ chức không quy mô, đồng bộ, nhộn nhịp bằng; do vậy nghi lễ này,không “nổi danh” bằng lễ hội Katê tổ chức thường xuyên hằng năm vào đầu tháng bảy Chăm lịch.Ngày nay, các đề tài lấy Chăm làm đối tượng nghiên cứu thu hút, dẫn dụ những nhà nghiên cứu văn hoá trong và ngoài nước chiếm tỉ lệ ngày càng nhiều.Trong đề tài đó có lễ hội dân gian Rija Nưgar. Xem bài viết

Binah 10 di 10« Dahlau...678910