Overview: Raglai ethnic group

Proper name: Ra Glai.
Local groups: Rai (in Ham Tan – Binh Thuan) Hoang, La Oang (in Due Trong – Lam Dong)…
Population: 71,696 people.(1999 census).
Language: Raglai language belongs to the Malayo- Polynesian language group (of the Austronesian language family). As a result of their contacts with other neighboring ethnic groups, the Raglai are bilingual or multi-lingual. The common language plays an important role in communication among the Raglai themselves and with other groups.

Chuyện sử Chàm trong toàn thư

Các nước chịu ảnh hưởng của Ấn Độ thuộc vùng Đông Nam Á đã để lại những kiến trúc đặc sắc nhưng lại khiến các sử gia thất vọng vì thiếu chứng cớ cho một lịch sử liên tục của tập đoàn, khu vực. Chứng cớ của bản thân còn lại là những bia đá rải rác mang tính chất tụng ca nhiều hơn sự kiện, là những tài liệu khá muộn về sau, ghi trên những vật liệu dễ huỷ nát như lá buông chẳng hạn. Xem bài viết

Người Ê-đê ở Tây Nguyên

Dân số 237.015 người (thống kê 1996) thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polynesia có nhiều nhóm riêng theo từng khu vực khác nhau: Eđê Kpa – nhóm chính thống gần trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột; Eđê Adham ở Ea súp, Buôn Hồ, Ea H’leo; Eđê Krung sống giáp gianh Đăk Lăk và Gia Lai; Eđê Ktun ở Krông Păk; Eđê Bin ở Lăk chịu ảnh hưởng của người Mnông; Eđê Blô ở M’drăk; Eđê Dliu Ruê ở Krông Ana … Người Eđê theo chế độ mẫu hệ, con gái đi cưới chồng. Sau đám cưới người chồng đến sống ở nhà vợ, con cái mang họ mẹ, con trai không được quyền thừa kế. Tất cả tài sản trong gia đình đều thuộc về họ vợ và con cái. Lúc vợ chết không được đem tài sản và con cái về ở với bố mẹ mình. Nếu bên nhà vợ không còn ai để thay thế (tục nối dây) thì người chồng phải về ở với chị em gái của mình. Nếu người chồng chết trước thì người chồng sẽ chia tài sản do sức lao động của người chồng ra làm ba phần: một phần dùng cho tuỳ táng, một phần biếu bố mẹ đẻ và chị em ruột nhà chồng, phần còn lại là của vợ và con cái.
Xem bài viết

Nghi lễ đời người Jrai

Tộc người Jrai có dân số đứng hàng thứ hai trong 36 dân tộc, sau người Kinh ở tỉnh Gia Lai và đứng hàng thứ mười trong cộng đồng 54 tộc người ở Việt Nam, có đời sống văn hóa phong phú, độc đáo và có giá trị nhân văn sâu sắc, trong đó có nghi lễ đời người. Hiện nay, dân số người Jrai là 345.654 người, sống tập trung ở thành phố Pleiku (20.159 người), huyện Chư Sê (60.685 người), Ayun Pa (47.993 người), Krông Pa (43.227 người), Ia Grai (40.004 người), Chư Prông (30.866 người), Ia Pa (28.706 người), Đức Cơ (28.494 người), Chư Păh (27.544 người), Đắc Đoa (17.203 người), Mang Yang (589 người), Kông Chro (165 người) và Kbang (20 người), được chia thành năm nhóm chính, có mười dòng: Rchom, Nay, Rơô, Siu, Rma, Ksor, Rah lan, Hiec, Kpă, Pui.
Xem bài viết

Cồng chiêng – Văn hoá cồng chiêng của người Jrai

Jrai là một trong số 5 tộc người Mã Lai – Đa Đảo (Chăm, Jrai, Ê đê, Ra glai, Chu ru) hiện đang sinh sống trên vùng đất Nam Trường Sơn – Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung bộ nước ta. Đây là dân tộc có số dân đông nhất trong các tộc người Malayo-Polinesien ở Việt Nam và đứng hàng thứ 9 trong cộng đồng 53 dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống trên đất nước ta (sau các tộc người: Tày, Thái, Hoa, Khmer, Mường, Nùng, H’mông, Dao). Trung tâm cư trú của người Jrai là tỉnh Gia Lai. Đây là dân tộc hiện còn lưu giữ số lượng lớn cồng chiêng cùng với những hoạt động văn hóa gắn với cồng chiêng.

Xem bài viết

Làng nghề thổ cẩm bên sông Liêng

Từ quốc lộ 1A, đoạn qua Thạch Trụ (huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi), theo quốc lộ 24 về Kon Tum chừng 25km là gặp làng Teng thuộc xã Ba Thành huyện Ba Tơ. Đây là ngôi làng duy nhất của đồng bào Hrê hiện nay còn giữ được nghề dệt thổ cẩm. Gần như toàn bộ phụ nữ các dân tộc thiểu số vùng cao của Quảng Ngãi đều lấy vải của làng này để may những bộ váy áo đẹp nhất dùng trong các lễ hội của dân tộc mình.

   Làng Chăm Hrê

  Sông Liêng hung dữ lao từ trời xanh của vùng rừng thượng nguồn Ba Tơ, đến đoạn xã Ba Thành, đột ngột dừng lại, lượn một vòng như thể làm dáng. Kết quả của việc “làm dáng” của con sông đã để lại một doi đất có tên làng Teng. Làng Teng đặc biệt không chỉ là ngôi làng duy nhất của đồng bào thiểu số ở Quảng Ngãi biết dệt thổ cẩm mà phụ nữ làng Teng có khuôn mặt không giống với phụ nữ Hrê hiện nay.

Xem bài viết

Binah 2 di 212