Tình hình giáo dục của dân tộc thiểu số ở bậc Cao đẳng và Đại học

Đây là bài viết của PGS.TS.Thành Phần, nguyên Phó giám đốc trung tâm bảo trợ sinh viên các dân tộc ít người thuộc Hội Dân tộc học TP.HCM (nay là Giám đốc Trung Tâm) vào năm 2002 và được đăng trên trong sách “Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Những vấn đề kinh tế – văn hóa – xã hội” do GS.TS.Ngô Văn Lệ (chủ biên), 2004, tr. 336-343. Nhưng từ năm 2003 đến nay, việc khảo sát về tình hình sinh hoạt và học tập của sinh viên các dân tộc thiểu số không được duy trì, một phần là do sự thu hẹp các hoạt động của Trung Tâm Bảo Trợ Sinh Viên Các Dân Tộc Ít Người; hai là do hạn hẹp về kinh phí. BBT xin giới thiệu bài viết trên đến quý đọc giả tham khảo.

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, có một nền văn hoá phong phú và đa dạng. Theo kết quả của cuộc khảo sát ngày 2 tháng 3 năm 1979, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm có 54 dân tộc (enhnies), phân bố ở nhiều vùng khác nhau[1].

Ở phía Bắc, đại bộ phận các dân tộc thiểu số tập trung cư trú ở vùng trung du và miền núi[2]. Riêng ở phía Nam, các dân tộc thiểu số không tập trung cư trú một vùng nhất định mà phân bố thành nhiều vùng khác nhau: vùng đồng bằng ven biển miền Trung, vùng Cao nguyên trung phần, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ[3].

Ở vùng ven biển miền Trung, tập trung sinh sống đông nhất là dân tộc Chăm, như ở các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận… Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngoài dân tộc Khmer là dân tộc sinh sống chủ yếu, còn có dân tộc Chăm và dân tộc Hoa. Ở vùng Cao nguyên trung phần (Trường Sơn Tây Nguyên), so với vùng ven biển miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long số lượng dân tộc cư trú đông hơn như dân tộc Êđê, M’Nông, Jarai, Churu, Raglai, Bahna, K’ho, Mạ. Vùng Đông Nam Bộ tập trung sinh sống đông nhất là dân tộc Stiêng, Châu ro…

Ở khu vực phía Nam, ngoài đa số các dân tộc sống ở nông thôn còn có một số ít dân tộc thiểu số sinh sống ở thành thị như ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có dân tộc Chăm, Khmer, Hoa…

Do môi trường sinh sống của các vùng không đồng nhất về điều kiện địa lý tự nhiên đã tạo nên sự khác biệt về môi trường sống của các tộc người và hình thành nên sắc thái văn hoá riêng của từng vùng[4]. Nhưng nhìn chung, đời sống sinh hoạt kinh tế của đại đa số các dân tộc thiểu số vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, chưa hoàn toàn thoát khỏi nền kinh tế tự cung, tự cấp. Do đó, đời sống sinh hoạt kinh tế gia đình thường bấp bênh, không ổn định.

Riêng về mặt giáo dục, nhờ sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và Nhà nước việc phổ cập giáo dục ở các cấp phổ thông đã từng bước nâng cao trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, từ sau năm 1975 đến 1998, số lượng các con em dân tộc thiểu số vào các trường Cao đẳng, Đại học có chiều hướng tăng dần. Nhưng sau năm 1998 đến nay, con em dân tộc thiểu số ở phía Nam và nhất là sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh có khuynh hướng giảm dần so với thời gian trước đây. Đây là vấn đề đáng lo ngại đối với tình hình giáo dục của con em dân tộc thiểu số phía Nam nói chung và sinh viên dân tộc thiểu số hiện nay đang theo học tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng vừa nêu trên, theo chúng tôi, có thể do tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: chính sách giáo dục chưa đáp ứng được tình hình thực tiễn; nguồn thu nhập gia đình dân tộc thiểu số quá thấp, đa số không đủ khả năng chu cấp trong suốt quá trình theo học ở bậc Cao đẳng và Đại học; sự khác biệt về văn hoá và trình độ dân trí thấp từ đó dẫn đến tâm lý mặc cảm, thụ động, khó thích ứng với môi trường mới.

1.      Chính sách giáo dục đối với dân tộc thiểu số ở bậc Cao đẳng và Đại học từ năm 1975 đến nay.

Về chính sách giáo dục đối với dân tộc thiểu số từ sau năm 1975 đến nay, chúng ta có thể tạm phân chia thành hai giai đoạn :

* Từ năm 1975 –1998 :

Trong thời kỳ này, chính sách của Đảng, Chính phủ, Nhà nước quan tâm một cách đồng đều giữa các dân tộc và không phân biệt theo vùng sinh sống. Do đó, chính sách trong thời kỳ này có tác động tích cực đối với sự phát triển giáo dục của con em dân tộc thiểu số ở bậc Cao đẳng và Đại học. Cụ thể như các học sinh dân tộc thiểu số ở bậc Trung học phổ thông phần lớn đều được xét duyệt vào học các trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú. Đây là nơi tạo nguồn để vào Trường Dự bị Đại học, vì vậy hầu hết các con em dân tộc thiểu số đều có cơ hội bước vào ngưỡng cửa Đại học.

Trong thời gian này, số lượng sinh viên dân tộc thiểu số theo học ở các Trường Cao đẳng và Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh theo chiều hướng tăng cao.

Mặc dầu vậy, chính sách vẫn chưa quan tâm một cách toàn diện. Những con em dân tộc thiểu số học giỏi đậu trực tiếp vào các trường Cao đẳng hay Đại học không thuộc đối tượng chính sách này. Có nghĩa là chỉ có những sinh viên thông quaTrường Dự bị Đại học thì mới được hưởng chính sách ưu tiên (miễn học phí, ở ký túc xá miễn phí và được trợ cấp xã hội hàng tháng). Còn những sinh viên đậu trực tiếp vào các Trường Cao đẳng, Đại học (không thông qua Trường Dự bị Đại học) thì không được hưởng chính sách ưu tiên trên. Trong khi đó, những sinh viên này có khả năng học tập tốt hơn những sinh viên thông qua Trường Dự bị Đại học[5]. Điều này dẫn đến những ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng đào tạo đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số.

* Từ sau năm 1998 đến nay :

Từ sau năm 1998, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài Chính, Bộ Lao Động – Thương binh và Xã hội ra Thông tư liên tịch số 53/1998/TT-LT/BGDĐT-BTC-BLĐ-TBXH ngày 25 tháng 8 năm 1998 về việc hướng dẫn thực hiện chế độ học bổng và trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên các trường đào tạo công lập như sau:

+ Đối tượng và phạm vi áp dụng chế độ học bổng chính sách:

– Đối với học bổng chính sách chỉ thu hẹp đối tượng sinh viên cử tuyển (học ở những lớp riêng được cơ quan có thẩm quyền duyệt danh sách) dành cho vùng cao và vùng sâu (danh mục các xã phường, thị trấn thuộc vùng cao, vùng sâu do Ủy ban Dân tộc và Miền núi công nhận và ban hành theo Quyết định số 42/UB-QĐ ngày 13/5/1997) do Nhà nước cấp kinh phí đào tạo.

– Học sinh các Trường Dự bị Đại học Dân tộc; học sinh phổ thông các Trường dân tộc nội trú.

– Học sinh là người tàn tật tại các trường dạy nghề TW dành cho thương binh và người tàn tật do ngành Lao động – Thương binh và xã hội quản lý.

+ Đối tượng và phạm vi áp dụng trợ cấp xã hội:

– Học sinh, sinh viên là dân tộc ít người vùng cao hoặc có hộ khẩu thường trú ở vùng cao ít nhất từ 3 năm trở lên (tính đến thời điểm vào học tại trường đào tạo).

– Học sinh, sinh viên là người mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa.

– Là học sinh, sinh viên khó khăn về kinh tế, khả năng lao động suy giảm từ 41% trở lên do tàn tật.

– Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, vượt khó học tập là những người mà gia đình của họ thuộc diện xóa đói giảm nghèo.

Qua quyết định trên, chính sách ưu tiên giáo dục cho dân tộc thiểu số không tiếp tục nữa, nếu có thì chỉ ưu tiên cho sinh viên dân tộc thiểu số theo vùng (vùng cao, vùng sâu). Khi áp dụng thực hiện chính sách này theo quy chế của từng trường, điển hình như Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thì xếp đối tượng hưởng học bổng chính sách là sinh viên thuộc khu vực III (Căn cứ theo danh mục khu vực III vùng cao, vùng sâu trong Quyết định số 42 ngày 23/05/1997, Quyết định số 26 ngày 18/03/1998, Quyết định số 21 ngày 25/02/1998):

+ Học bổng chính sách ưu đãi:

Đối tượng là sinh viên cử tuyển thuộc khu vực III vùng cao, vùng sâu.

·   Trợ cấp xã hội:

Đối tượng là sinh viên dân tộc ít người thuộc khu vực III vùng cao.

·   Miễn, giảm học phí:

Miễn 100% thuộc đối tượng là sinh viên thuộc vùng ưu tiên tuyển sinh của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (các tỉnh từ Lâm Đồng, Ninh Thuận trở thành vào) có cha mẹ cư trú khu vực tại khu vực III, vùng cao miền núi (trừ thành phố, thị xã, thị trấn), vùng sâu và hải đảo (không phải tính khu vực).

Trên thực tế, không phải gia đình nào cũng thuộc khu vực III theo quy định của chính sách Nhà nước cho nên có đến 61,51% sinh viên dân tộc thiểu số ở ký túc xá phải đóng tiền và 51,84% không được miễn giảm học phí. Số các em không được miễn giảm học phí phần lớn rơi vào sinh viên Chăm và Khmer (xem bảng 1).

 

Bảng 1. Tình hình nơi ở của sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại Tp. HCM

 

Nơi ở Số sinh viên (sinh viên ) Tỷ lệ (%)
– Ở ký túc xá (đóng tiền) 349 61,34
– Ở ký túc xá (miễn phí) 168 29,53
– Ở nhà trọ (trả tiền) 39 6,85
– Ở nhà trọ (miễn phí) 4 0,70
– Ở trọ nhà bà con (trả tiền) 7 1,23
– Ở trọ nhà bà con (miễn phí) 2 0,35

Nguồn: Báo cáo của Trung tâm bảo trợ sinh viên dân tộc thiểu số 2003.

 

Khác với khu vực phía Bắc, các dân tộc thiểu số ở phía Nam không chỉ tập trung sinh sống ở vùng cao miền núi mà còn phân bố ở cả vùng đồng bằng thậm chí ở cả thành thị và gần trục lộ giao thông chính. Do đó, sinh viên dân tộc thiểu số nằm ở ngoài vùng ưu tiên của chính sách không phải là ít. Ví dụ như người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là người Chăm ở Ninh Thuận. Trường hợp người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận có tổng số dân khoảng 57.000 người[6], cư trú 23 thôn, thuộc 12 xã của 4 huyện thị. Nhưng chỉ có 3 thôn (với số dân rất ít) được may mắn xếp vào khu vực III (vùng núi, vùng cao, vùng sâu).

Trên thực tế, đối với vùng ưu tiên theo diện chính sách thường có rất ít con em dân tộc thiểu số đủ điều kiện học lực cũng như học vấn theo học ở Trường Dự bị Đại học. Ngược lại, khá nhiều học sinh có đủ học lực để theo học lên các trường Cao Đẳng, Đại học thì lại không được xếp vào diện ưu tiên của chính sách. Chính vì lý do này, đã tạo nên sự bất cập, không phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Hay nói cách khác, nơi có nhiều con em dân tộc thiểu số có đủ năng lực học tập ở các Trường Cao đẳng và Đại học thì không có chính sách ưu tiên giúp đỡ tạo điều kiện. Nơi có chính sách ưu tiên, thì có quá ít con em dân tộc thiểu số đáp ứng theo chỉ tiêu đưa ra.

 

Biểu đồ sinh viên các dân tộc cư trú ở các xã thuộc khu vực III thuộc tỉnh Ninh Thuận năm 2003

Đơn vị tính: xã

Nguồn : Báo cáo của Trung Tâm Bảo Trợ Sinh Viên Dân ộc Thiểu Số năm 2003

 

2.      Tình hình sinh hoạt đời sống kinh tế của dân tộc thiểu số ở phía Nam

Từ sau năm 1975 cho đến nay, đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung có sự thay đổi và có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, từ sau khi xóa bỏ chính sách bao cấp thay bằng chính sách mở cửa và phát triển kinh tế thị trường, đời sống kinh tế – xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số có chiều hướng bị phân hóa 3 trường hợp:

·   Trường hợp 1 :

Đối với gia đình có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nông nghiệp truyền thống thuần túy có khuynh hướng nợ nần (thường là tiền vay nóng lãi từ 10% – 30%) tăng dần, dẫn đến mất đất canh tác (do xiết nợ) và cuối cùng cho con đi ở đợ hoặc cả gia đình đi làm thuê mướn ở các đồn điền, vườn tược hay ở các trại chăn nuôi.

·   Trường hợp 2 :

Đối với gia đình có nông cụ bằng cơ giới (máy cày) hoặc có trang trại thì nguồn thu nhập cao hơn, đời sống kinh tế phát triển hơn. Số lượng gia đình thuộc trường hợp này chiếm tỉ lệ không nhiều.

·   Trường hợp 3 :

Đối với gia đình có con em theo học ở các Trường Cao đẳng và Đại học, thường bị rơi vào trường hợp phải đi vay nặng lãi (vay nóng 10% – 30%) để chu cấp kịp thời đóng học phí, tiền thi cử theo từng học kỳ và tiền ăn, tiền ở hàng tháng.

Theo điều tra của Trung tâm Bảo trợ sinh viên dân tộc thiểu số tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 về tình hình đời sống sinh hoạt, học tập của sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy trung bình mỗi năm thu nhập kinh tế gia đình quy ra thành tiền rất thấp (thu nhập dưới 5 triệu đồng/năm, chiếm tỉ lệ 49,03%). Những gia đình thu nhập cao (trên 30 triệu đồng/năm, chiếm tỉ lệ 0,53%) (xem bảng 2). Trong số đó, những gia đình thiếu ăn chiếm tỉ lệ 39,72%, gia đình dư ăn chỉ chiếm tỉ lệ 0,53% (xem bảng 3). Với tình hình này, đa số gia đình của con em dân tộc thiểu số đang theo học tại Thành phố Hồ Chí Minh khó có khả năng chu cấp đủ số tiền cần thiết cho sinh hoạt và học tập (xem bảng 2).

Bảng 2. Tình hình thu nhập kinh tế gia đình của sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại Thành phố Hồ Chí Minh

Định mức (1000 đồng/năm)

Số sinh viên (sinh viên )

Tỷ lệ (%)

Dưới   5.000

279

49,03

Từ        5.000 – 10.000

201

35,33

10.000 – 15.000

57

10,02

15.000 – 20.000

25

4,39

20.000 – 30.000

4

0,70

Trên     30.000

3

0,53

Tổng cộng

569

100

Nguồn: Báo cáo của Trung tâm bảo trợ sinh viên dân tộc thiểu số 2003

 

Bảng 3. Gia đình diện chính sách và diện đói nghèo của sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại Thành phố Hồ Chí Minh

 

Diện chính sách Số sinh viên (sinh viên ) Tỷ lệ (%)
 Gia đình liệt sĩ 5 0,88
 Gia đình thương binh 13 2,28
Gia đình có công cách mạng 43 7,56
Gia đình xóa đói giảm nghèo 92 16,17
 Gia đình thiếu ăn 226 39,72
 Gia đình đủ ăn 187 32,86
 Gia đình dư ăn 3 0,53
Tổng cộng 569 100

Bảng 4. Tình hình gia đình có khả năng chu cấp tiền hàng tháng cho sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại Thành phố Hồ Chí Minh

 

Chu cấp tiền hàng tháng Số lượng gia đình Tỷ lệ (%)

Gia đình có khả năng chu cấp

90 15,82
Gia đình không khả năng chu cấp 479 84,18
Tổng cộng 569 100

Nguồn: Báo cáo của Trung tâm bảo trợ sinh viên dân tộc thiểu số 2003

 

3.      Sự khác biệt văn hoá và trình độ dân trí của dân tộc thiểu số

Sự khác biệt văn hoá là một trở lực gây không ít trở ngại về sinh hoạt đời sống đối với sinh viên dân tộc thiểu số khi bước chân vào môi trường xã hội mới. Bên cạnh đó, với tâm lý mặc cảm do bất đồng ngôn ngữ, hạn chế trong việc tiếp thu bài giảng dễ gây thụ động trong quá trình học tập ở môi trường đại học. Để khắc phục hiện tượng này, việc tạo điều kiện giao lưu văn hoá giữa các sinh viên dân tộc thiểu số với sinh viên dân tộc đa số là cần thiết. Đồng thời, hỗ trợ phương tiện và tài liệu học tập là điều không thể thiếu.

Để minh họa điều trên, chúng tôi xin nêu một số trường hợp cụ thể như:

Trường hợp Danh Ca (dân tộc Khmer) – sinh viên Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về sự bất đồng ngôn ngữ như sau: “Khi giáo sư đứng trên giảng đường giảng bài bằng tiếng phổ thông thì em phải chuyển ra tiếng Mẹ đẻ mới hiểu được”[7].

Mặt khác, sinh viên dân tộc thiểu số còn có những khác biệt về văn hóa như trường hợp sinh viên Sơn Thị Thu Hồng (dân tộc Khmer), Đại học KHXH & NV Tp. HCM cho rằng: “Con trai lớn lên phải lấy vợ, con gái lớn lên phải lấy chồng. Đó là câu nói lưu truyền rất lớn ở làng tôi. Vì thế, con gái quá tuổi 22 coi như là ế, còn chuyện học hành thì chẳng ai xem trọng và quan tâm. Thế nhưng, tôi rất may mắn khi gia đình tôi có quan niệm muốn học để thoát khỏi nghèo và lạc hậu. Lúc đó, xung quanh gia đình tôi có nhiều lời dị nghị vì có quan niệm khác, nhưng tôi quyết tâm học hành thật giỏi để khỏi phụ lòng cha mẹ.

Trong quá trình theo học, tôi xuýt bỏ giảng đường do không đủ tiền đóng học phí. Nhờ kiếm được việc làm thêm tôi đã vượt qua những khó khăn này. Mặc dầu vậy, tâm lý kiếm tiền cứ đè nặng tâm trí tôi nên tôi dành quá nhiều thời gian vào việc kiếm tiền, lúc nào cũng rơi vào trạng thái mệt mõi chẳng còn thiết nghĩ đến việc học hành, nên kết quả học tập của tôi sa sút rất nhiều, rớt rất nhiều môn. Sau này, tôi quyết định thay đổi bằng cách xắp xếp thời khóa biểu hợp lý hơn để dành thời gian cho học tập nhưng kết quả lại vẫn cứ thấp tuy tôi đã nổ lực rất nhiều. Lại thêm nữa, đầu năm 1998 Bộ Giáo Dục ra quyết định cắt học bổng đối với tất cả sinh viên dân tộc vùng đồng bằng. Tôi thấy rất vô lý vì tất cả chúng tôi đều là đồng bào dân tộc cả. Vấn đề giải quyết công ăn việc làm của sinh viên dân tộc khi ra trường cũng vậy, chúng tôi phải khó khăn lắm mới học xong Đại học, vậy mà khi cầm tấm bằng đi xin việc mất ròng rã gần mấy năm trời vẫn chưa có việc làm”[8].

Sinh viên Kim Đê dân tộc Chăm, Trường Đại học KHXH & NV đã tìm ra cho mình một triết lý: “Có thực mới vực được đạo: là phương pháp học đầu tiên của em. Đó là một câu nói thoạt nghe tưởng chừng như vô lý hay quá tính toán. Nhưng đó là bức tranh tổng thể thực tế của sinh viên nhất là sinh viên dân tộc thiểu số. Nếu ai đã là một thời sinh viên chắc cũng hiểu rõ và thấm thía về vấn đề “cơm áo gạo tiền”. Chính “có thực” là một trong những điều kiện quan trọng nhất trong suốt quá trình học tập, vì thế nếu bế tắc thì nó cũng dẫn đến rất nhiều khó khăn nảy sinh. Ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt trong đời sống sinh hoạt ăn, ở, học tập v.v…”[9]

Qua một số trường hợp nêu trên, chúng ta thấy được tình hình đời sống sinh hoạt, ăn, ở, học hành của các sinh viên dân tộc thiểu số tại Thành phố Hồ Chí Minh rất khó khăn và đang là một thực trạng mà các ban ngành liên quan cần phải quan tâm và giải quyết.

  1. Kết luận

Sinh viên dân tộc thiểu số đang học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ không nhiều nếu không muốn nói là rất ít so với tổng số sinh viên toàn thành phố (khoảng 1% trong tổng số sinh viên đang học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh). Mặc dù, Đảng và Nhà nước rất chú trọng đến việc đào tạo lớp trí thức là người dân tộc thiểu số và có nhiều chính sách hỗ trợ cho sinh viên người dân tộc thiểu số, nhưng do đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục mang tính đặc thù ở mỗi vùng khác nhau nên việc thực thi chính sách còn nhiều bất cập. Nhất là từ khi Thông tư liên tịch số 53, ngày 25 tháng 8 năm 1998 ra đời, chính sách hỗ trợ cho sinh viên dân tộc thiểu số không còn nữa. Do đó, không ít sinh viên dân tộc thiểu số lâm vào hòan cảnh khó khăn, thậm chí dẫn đến một số em bắt đầu có hiện tượng bỏ học vì gia đình không đủ chu cấp. Điều này, tác động rất lớn và làm giảm sút chất lượng học tập của sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Đặc biệt, đối với sinh viên dân tộc thiểu số thuộc khu vực đồng bằng như sinh viên dân tộc Khmer, Chăm… không những giảm sút về chất lượng mà còn giảm sút cả về số lượng (giảm khoảng 35%).

Nói chung, để tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số có cơ hội nâng cao trình độ dân trí, Nhà nước nên tiếp tục thực hiện chính sách miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội, học bổng chính sách ưu đãi đối với sinh viên dân tộc thiểu số như trước đây (trước năm 1998). Không phân biệt miền núi hay đồng bằng, khu vực nông thôn hay thành thị, vùng sâu hay vùng xa.

 


* Giảng viên chính Bộ môn Nhân Học, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn –Đại Học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh.

[1] Theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê ngày 2 tháng 3 năm 1979.

[2] Xem thêm Viện Dân tộc học“Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.

[3] Xem thêm Viện Dân tộc học“Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.

[4] Xem thêm Ngô Đức Thịnh. Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam. NXB KHXH, Hà Nội, 1993.

[5] Theo số liệu của Trung tâm Bảo trợ sinh viên dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình học tập của sinh viên dân tộc thuộc diện chính sách: học lực loại khá chiếm tỉ lệ 5%, loại trung bình chiếm tỉ lệ 60%, yếu chiếm tỉ lệ 20%, lưu ban chiếm tỉ lệ 10%, bỏ học chiếm tỉ lệ 5%; trong khi đó tình hình học tập của sinh viên dân tộc thiểu số trực tiếp đậu vào Đại học, Cao đẳng: học lực loại giỏi chiếm tỉ lệ 3%, khá chiếm tỉ lệ 15%, loại trung bình: chiếm tỉ lệ 72%, yếu: chiếm tỉ lệ 8%, lưu ban: chiếm tỉ lệ 2%.

[6] Thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2003.

[7] Trích “Hội thảo chuyên đề Nâng cao chất lượng học tập của sinh viên các dân tộc đang học tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999, trang 17.

[8] Tài liệu đã dẫn, trang 28

[9] Tài liệu đã dẫn, trang 57.

 

Nguon: http://tincham.in/index.php?language=vi&nv=news&op=Giao-duc/TINH-HINH-GIAO-DUC-CUA-DAN-TOC-THIEU-SO-O-BAC-CAO-DANG-VA-DAI-HOC-106#

Chia sẻ cảm nhận của bạn