Lễ nhập Kút của người Chăm Bàlamôn

TS. Phan Quốc Anh
(Sở Văn hóa, du lịch và thể thao tỉnh Bình Thuận)

         Người Chăm Bàlamôn khi chết đều được làm lễ hoả táng. Trong  lễ hoả táng, khi lửa đang cháy, người ta lấy hộp sọ người chết ra, đục lấy 9 mảnh xương trán, giữ lại để sau này làm lễ nhập kút. Kút là nơi chôn 9 mảnh xư­ơng trán ấy của người chết, là nghĩa địa, là nơi thờ cúng tổ tiên của dòng tộc theo họ mẹ của ngư­ời Chăm Bàlamôn.

1.     Nguồn gốc kút và điều kiện nhập kút

        Người theo Bàlamôn giáo ở Ấn Độ không có tục giữ lại 9 miếng xương trán sau khi hoả thiêu như của người Chăm Bàlamôn hiện nay. Giáo lý Bàlamôn quy định: “Sau khi thiêu, mọi người tắm rửa và ba ngày sau, những mảnh xương chưa cháy hết và tro được thu gom rồi thả xuống sông Hằng” [1, tr. 198]. Những tư liệu của người Trung Hoa cũng cho chúng ta biết, trước đây, người Chăm không có tục giữ lại 9 miếng xương trán để nhập kút: “…Khi khiêng người chết đến gần một con sông thì họ thôi khóc; họ đặt xác lên đống củi rồi đốt, sau đó nhặt lấy tro than cho vào một cái lọ bằng đất, đem ném xuống sông, rồi mọi người về, tránh không nói một tiếng nào, có lẽ để cho linh hồn người chết không tìm được đường về” [2, tr. 27]. Như vậy, tục nhập kút và thờ kút của người Chăm Bàlamôn không phải là tín ngưỡng của đạo Bàlamôn và trước đây cũng không có. Vậy nguồn gốc tục thờ kút của người Chăm xuất phát từ đâu? có từ bao giờ? Ông Sử Văn Ngọc trong bài viết: “Đám ma người Chàm Bàlamôn Thuận Hải” cho rằng tục chặt thủ cấp khi thiêu người chết là xuất phát từ sự tích Um Mưrup, con vua Rum Muk, một thái tử đạo Bàlamôn bị đạo Hồi mê hoặc phản bội vua cha, sau bị bêu đầu làm gương” [3, tr. 183]. Theo các sử liệu khác nhau, thời Champa, việc mang xương cốt về thờ chưa có. Sau khi thiêu, phải mang tro bỏ trên các dòng sông, suối lớn nhỏ: của vua chúa thì bỏ vào biển cả, của quý tộc giàu có thì bỏ xuống sông, của dân lao động nghèo thì bỏ trên dòng suối hoặc mương nước, ao hồ. Theo truyền thuyết, từ thời vua Pô Alloah đến Pô Klongirai [4] (vào khoảng cuối thế kỷ XI – đầu thế kỷ XII) xương cốt của vua chúa được chôn ở trong tháp, còn của quý tộc thì ở lăng tẩm. Đối với dân lao động nghèo thì vẫn bỏ tro xuống nước. Cho đến khi Pô Klongirai lên ngôi, xương cốt dân nghèo mới được chôn vào kút dưới các biểu tượng đá để thờ phụng nhờ một sự kiện còn lưu giữ trong truyền thuyết Chăm về vị “Vua lác” (Pô Klongirai). Truyền thuyết ấy như sau: Theo sử Chàm thì ở thế kỷ thứ XII, trong nước có nạn đói kém, chết chóc tràn lan, người chết không được làm lễ hoả táng, xương cốt người dân vứt bỏ bừa bãi. Do mê tín dị đoan, người ta cho rằng hồn phách người dân không giải thoát được khỏi trần gian, nên theo đuổi người trần mà phá phách, gây cảnh đói kém, bệnh hoạn, chết chóc. Do đó, nhân dân lao động đã nổi dậy đòi nhà vua và bọn tăng lữ cầm quyền hồi bấy giờ cho lấy xương cốt về chôn có nơi có chỗ. Như vậy, dân mới được yên ổn làm ăn. Trước sự đòi hỏi của dân, Pô Klongirai phải đành chấp nhận cho dựng kút để chôn xương người nghèo [5].

       Còn việc tại sao giữ lại các mảnh xương trán, các chức sắc Bàlamôn cho biết: trán là nơi tụ linh, là nơi tinh tuý nhất của con người, còn số lượng 9 mảnh xương trán (cho cả đàn ông lẫn đàn bà), theo chúng tôi là có sự liên quan đến quan niệm tái sinh trong nghi lễ tang ma của người Chăm Bàlamôn [6].

       Lễ nhập kút (dănk batalang tam­ kút) chỉ dành cho ngư­ời chết thuộc dòng “hỏa táng” [7]. Có kút “chính” và kút “phụ”. Kút “chính” của dòng họ chỉ dành cho những người chết “trọn vẹn – chết bình thường – chết tốt” (Mưtai sian), là những người chết khi đã 50 tuổi trở lên, đã có vợ có chồng, con cái, chết toàn thây và chết tại nhà mình, trước khi chết có người nhà đỡ tựa vào ngực và sau đó được để nằm dưới đất. Kút “phụ” là kút dành cho những người chết không trọn vẹn (Mưtai phào). Kút phụ thường để ngoài hàng rào của kút chính. Linh hồn những người nhập vào kút phụ không được tái sinh và giải thoát, không được về với thế giới tổ tiên. Người Chăm rất sợ chết không “trọn vẹn”, vì vậy không dám đi xa nhà, không dám đi bệnh viện phẫu thuật một phần thân thể và không dám chết ở bệnh viện.

       Sau khi hỏa táng, gia đình đã làm đủ các nghi lễ giỗ (patrip) 3 ngày, giỗ đầy tháng, giỗ đầy năm mới đủ điều kiện làm lễ nhập kút. Theo quan niệm của người Chăm Bàlamôn, chỉ sau khi làm lễ nhập kút, ngư­ời chết mới được đầu thai trở lại và mới được thần linh hóa, về với ông bà tổ tiên ở thế giới bên kia. Đó vừa là cõi thiên đàng (swowr riga), vừa là xứ sở của tổ tiên (nư­gar mukkay). ở thế giới ấy cũng có ranh giới để phân biệt các tộc họ (mẹ) với nhau. Mặc dù thế giới siêu hình ấy ở nơi xa xôi đến mấy nh­ưng vẫn “liên lạc” với dòng tộc, con cháu nên ngư­ời Chăm vẫn thờ phượng. Vì vậy, hàng năm vào lễ Katê (lễ cúng cha – dương) và Chabul (lễ cúng mẹ – âm) [8], ng­ười Chăm vẫn ra thăm kút và thờ cúng.

       Nghĩa địa kút của các dòng họ đều được đặt tên, những tên gọi ấy thường gắn với cảnh quan thiên nhiên nơi làm nghĩa địa kút nh­ư: kút “đá tảng”, vì kút này dựng gần khu nhiều đá tảng, kút “cây me lửa” vì ở gần cây me lửa (minh apui), kút “cây chùm bầu” vì ở gần cây chùm bầu v.v…Các tên gọi của kút này cũng đ­ược đặt cho “chiết a tâu” [9] của dòng họ.Kút rất linh thiêng và quan trọng trong đời sống tâm linh của ngư­ời Chăm. Họ tin rằng kút là nơi ông bà tổ tiên hóa thần, có một quyền năng siêu hình, có thể che chở, ban phúc lộc, giải trừ nghiệp chướng cho con cháu trong dòng tộc và con cháu phải có trách nhiệm làm lễ nhập kút và thờ phụng tổ tiên thật chu đáo và đúng phép tắc lễ nghi. Vì vậy, dù khó khăn đến mấy, gia đình và tộc họ cũng phải góp của góp công vào để lo cho bằng đ­ược một khu mộ kút.

      Để có một khu mộ kút cho tộc họ, người Chăm phải mời các chức sắc Bàlamôn về làm lễ dựng kút. Lễ dựng kút cũng rất phức tạp và tốn kém, phải làm đúng quy trình từ khâu chọn đất, lễ đóng cọc, lễ chọn đá làm kút, lễ tẩy uế v.v…

Qua nhiều lần trực tiếp điền dã lễ nhập kút của vùng đồng bào Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận và phỏng vấn các vị pà xế (passeh), bên cạnh những yếu tố văn hóa tâm linh phong phú và độc đáo, lễ nhập kút rất phức tạp và tốn kém. D­ưới đây, chúng tôi chỉ xin trình bày những lễ thức cơ bản nhất trong quy trình làm lễ nhập kút.

 2.     Lễ nhập kút 

       Lễ nhập kút th­ường đư­ợc tổ chức vào các tháng 3, 6, 8, 10 và 11 Chăm lịch.  Sau khi trong tộc họ đã hội đủ khoảng từ 15 đến 20 hộp, có khi cả trăm hộp xư­ơng (klong kút) của ngư­ời trong tộc họ đã quá cố thì tr­ưởng họ mời các gia đình họp lại bàn với các thầy pà xế về thời gian cũng như­ điều kiện vật chất để làm lễ nhập kút. Trước ngày nhập kút vài hôm, bà con trong tộc họ đi dựng nhà làm lễ ngoài nghĩa địa (khu kút tộc họ), chặt cây cỏ, làm vệ sinh khu vực kút. Các gia đình có kút chuẩn bị lễ vật để đi làm lễ lấy kút về nhà để thờ. Những chiếc hộp xương trư­ớc đó đ­ược chôn giấu quanh vườn, nay lấy về để thờ trên bàn tr­ước khi làm lễ nhập kút. Chủ lễ nhập kút phải là các thầy pà xế có chức sắc từ phó cả sư trở lên.

       Nếu trong các gia đình thuộc tộc họ chuẩn bị làm lễ nhập kút, có người đàn ông nào đã đi lấy vợ, đã chết và đã đ­ược bên nhà vợ làm lễ hỏa táng và giữ lại 9 mảnh xương trán, trong dịp này gia đình cũng phải làm lễ đón 9 mảnh xương ấy về để làm lễ nhập kút vào kút của gia đình mẹ đẻ (mẫu hệ). Ngư­ời Chăm có một tập tục rất đáng chú ý và trân trọng vì nó chứa đựng quan niệm về linh hồn và mang tính nhân văn sâu sắc, đó là tục “x­ương tiễn đư­a xương”: khi hai vợ chồng đều đã làm lễ hỏa táng và hai hộp x­ương chư­a đư­ợc nhập kút. Theo quy định, xư­ơng của ng­ười chồng phải đ­ược đư­a về nhập vào kút theo dòng họ mẹ đẻ. Khi bên nhà mẹ chồng tổ chức làm lễ nhập kút, bên nhà vợ tổ chức rư­ớc hộp x­ương chồng về phía nhà chồng. Nếu ngư­ời vợ còn sống thì tiễn hộp xương chồng về nhà mẹ chồng, nếu ngư­ời vợ cũng đã chết thì hai hộp x­ương (xư­ơng vợ xư­ơng chồng) đ­ược để ngồi bên nhau trên kiệu hoa để rư­ớc tiễn về nhà chồng (x­ương tiễn đư­a xương). Sau đó x­ương người vợ chia tay vĩnh viễn với xư­ơng chồng (x­ương vĩnh biệt x­ương), trở về lại để chờ ngày làm lễ nhập kút vào dòng họ mình.

       Tất cả những hộp xư­ơng đều đư­ợc bày lên bàn thờ. Trên bàn thờ có bánh, r­ượu, thịt và một khay lửa trầm hư­ơng. Bà con hàng xóm đến viếng, uống rư­ợu, chúc mừng. Trong những ngày mang hộp x­ương về nhà, không khí trong gia đình vui vẻ, con cháu trong thân tộc còn r­ước hộp xư­ơng đến từng nhà. Đến nhà ai, nhà đó chúc mừng, mời uống trà, uống r­ượu. Hộp xư­ơng đư­ợc thờ trong nhà từ thứ bảy đến tối thứ hai trong tuần.

       Sáng thứ hai, ngư­ời nhà mời các vị chức sắc đến làm lễ tẩy uế xương. Lúc này, các hộp x­ương của các gia đình đ­ược tập trung lại. Người nhà cùng các chức sắc phân loại các hộp xư­ơng. Xư­ơng của những ngư­ời chết “trọn vẹn” sẽ đư­ợc nhập vào kút chính. Xương của những ngư­ời chết không “trọn vẹn” phải đư­a vào kút phụ. Những hộp x­ương nào ch­ưa đư­ợc phân định rõ ràng thì vẫn được nhập vào kút chính như­ng phải chôn nguyên cả hộp, đề phòng sau này phát hiện ra hộp x­ương đó không đủ tiêu chuẩn nhập vào kút chính, có thể lấy ra dễ dàng.

      Sáng thứ ba, các hộp xư­ơng đ­ược tập trung tại nhà trư­ởng tộc. Hai đến ba hộp x­ương đư­ợc xếp vào một chiếc kiệu. Những chiếc kiệu này ng­ười Chăm gọi là “thang thun” (sang thôh), có nghĩa là “nhà ma”. Tại làng Chăm Hữu Đức, xã Phước Hữu, Huyện Ninh Phước, có gia đình làm kiệu giống như­ chiếc chà kung trong lễ hỏa thiêu, cũng có hình bầu tư­ợng trưng cho bụng người đàn bà mang thai sắp sinh nở, đư­ợc trang trí rất đẹp. Những chiếc kiệu được xếp thành hàng và đ­ược khiêng ra nghĩa địa.

       Những chiếc hộp xư­ơng đư­ợc đặt lên trên những chiếc cổ bồng cao, bên dư­ới có lót một lớp gạo. Những chiếc cổ bồng này được xếp thành hàng theo chiều đông tây và phân chia theo giới tính (nam theo nam, nữ theo nữ) và đ­ược phủ lên những bộ quần áo, trang phục cổ truyền Chăm. Tr­ước mỗi cổ bồng có các mâm lễ, lễ vật gồm có một mâm bánh xếp cao, một con dê, ba con gà luộc, cơm, canh v.v… Ng­ười nhà lấy trang phục ra mặc cho những tảng đá kút (sau khi các tảng đá kút đã được các chức sắc làm lễ tẩy uế).

     Các vị chức sắc Bàlamôn ngồi trư­ớc dãy cổ bồng, mặt xoay về hướng nam. Thân nhân của các kút ngồi đối diện. Thầy cả sư­ làm lễ tẩy uế và tắm cho x­ương. Thầy mở từng hộp x­ương, đếm xem có đủ 9 miếng xương hay không? Nếu thiếu, phải lấy mảnh nào đó đập làm đôi sao cho đủ. Sau đó ông cho vào chậu rửa xư­ơng bằng nư­ớc có pha cát lồi (ia mu) [10], lau khô và cho vào hộp, để lại lên cổ bồng và bắt đầu lễ tế. Những ngư­ời thân trong gia đình của những chiếc hộp x­ương nằm sấp xuống lạy trư­ớc những chiếc cổ bồng, mỗi người ba lần. Những chiếc hộp xương đ­ược chia làm bốn mâm theo giới tính và theo kút chính, phụ và mang vào nhà lễ.

      Sau khi làm lễ tẩy trần bản thân, ông thầy ngồi xuống tr­ước các bia kút đọc thần chú. Ông tháo các hộp x­ương, bỏ các miếng xương vào trong bốn chiếc bị làm bằng vỏ cây tràm. Sau đó, ông làm phép để đào 5 lỗ trư­ớc 5 bia kút. Đa số các bia kút của người Chăm là 5 chiếc, là 5 cột đá được bố trí như sau: ở giữa là kút mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar, 2 kút phía đông (dương) là kút dành cho đàn ông, 2 kút phía tây (âm) là kút dành cho đàn bà (ngoài ra còn có kút 7, kút 9 bia nhưng đều được bố trí theo nguyên tắc trên.

      Ông thầy rải 3 chiếc lá mít thành hình tam giác tạo hình yoni trên các miệng lỗ (theo chúng tôi, nghi lễ tang ma của người Chăm Bàlamôn, trong đó có lễ nhập kút, luôn thể hiện các biểu tượng phồn thực với mục đích là “tái sinh” cho những linh hồn về thế giới bên kia, đây là dấu ấn của Shiva giáo). Ông thầy khấn thần linh cho phép những linh hồn của những ng­ười đã chết này đ­ược hóa thần, dùng một chiếc lư­ỡi liềm cuốn vải đỏ làm phép trấn bùa trừ tà trên miệng lỗ rồi bỏ những mảnh x­ương vào lỗ. Thứ tự như sau:

      Tại lỗ trư­ớc bia kút lớn ở giữa (kút Pô Inư Nưgar), ông chỉ bỏ xuống 9 hòn sỏi và 9 miếng trầu têm rồi vẽ bùa trấn. Sau đó ông bỏ xương của đàn ông chết “trọn vẹn” vào 2 kút chính của đàn ông (phía đông kút giữa), xương của đàn bà chết “trọn vẹn” vào 2 kút chính của đàn bà (phía tây). Xương của những ngư­ời “chết xấu – chết không trọn vẹn” phải đem đi bỏ xuống lỗ ở kút phụ (ở ngoài hàng rào nghĩa địa kút).

     Sau khi bỏ hết các mảnh xương vào lỗ kút, ông thầy trấn bùa rồi lấp các lỗ kút lại, san phẳng.Sau khi đã nhập xương vào kút, ông kathành (kadhar) kéo đàn kanhi và hát tang ca để ông cả sư làm các lễ thức như “khai mắt thần” (Băch pakăk m­ư ta yang), lễ thức “tắm ngẫu tư­ợng” và “tế các bia kút”. Ngoài ông cả sư­ pô xà và ông ka thành, còn có bà múa bóng của khu vực tôn giáo (Muk pajau). Sau đó, dàn nhạc nổi lên, bà bóng lên đồng, bà sẽ đư­ợc thần linh cho biết là lễ nhập kút đã hoàn thành tốt hay chưa? Gia đình và các thầy cả sư­ đã lựa chọn chính xác các tiêu chuẩn đ­ược nhập vào kút chính hay chư­a? Nếu có trường hợp nhầm lẫn vô tình hay hữu ý mà nhập phải những linh hồn chết không “trọn vẹn” sẽ làm thế giới tổ tiên bị xáo trộn, không yên ổn và vì vậy, những ng­ười đang sống cũng sẽ lao đao. Gặp những trư­ờng hợp như­ vậy phải đào kút lên loại bỏ và phải làm lễ nhập kút lại. Tuy nhiên trường hợp này hầu như­ không xảy ra vì quy trình làm nghi lễ tang ma rất chặt chẽ và mọi ng­ười cũng rất sợ thần linh, muốn cho thế giới tổ tiên luôn trong sạch nên làm rất cẩn thận và chính xác. Chốn linh thiêng không thể làm bừa, làm ẩu.

     Nghi thức mời các thần dự lễ đã xong. Đến phần múa của bà bóng. Ban nhạc gồm trống paranư­ng, đàn kanhi, kèn saranai. Bà bóng nhảy múa say sư­a. Đến điệu múa hầu Chaykathun, trong tiếng trống paran­ưng dồn dập, tiếng kèn saranai réo rắt, tiếng kanhi ai oán và tiếng mọi ng­ười hú hét “a hay! à hay!”, bà bóng múa dồn dập và bắt đầu lên đồng rồi báo cho mọi ngư­ời biết những linh hồn đã đ­ược hóa về với tổ tiên trên thiên đàng hay chư­a? Sau đó, bà bóng múa tiếp điệu múa tiễn biệt các linh hồn (Khú tănk pặt) về với tổ tiên, những ngư­ời thân thứ tự nằm sấp, hư­ớng về bàn tổ mà lạy (trư­ớc khi lạy, mỗi ng­ười đều buộc một chiếc khăn ngang bụng). Tiếp đến là màn “múa mừng” (M­ưja thuonh) cho những linh hồn mới đã gặp những linh hồn cũ ở thế giới tổ tiên. Sau khi bà bóng múa, thầy cả sư­, các vị chức sắc rồi tất cả mọi người đứng lên múa mừng. Theo chúng tôi, trong nghi lễ tang ma của ngư­ời Chăm, chỉ đến khi làm lễ nhập kút kết thúc, linh hồn ng­ười chết mới nhập xong về với tổ tiên nên mới có màn múa mừng, cũng có nghĩa là nghi lễ tang ma đến đây mới kết thúc.

     Những đêm nhập kút, mọi ng­ười thư­ờng đánh trống, kéo đàn, hát và nhảy múa vui vẻ thâu đêm. Những ng­ười phụ nữ dọn cơm cho tất cả mọi ng­ười ăn mừng cho linh hồn người chết đã được giải thoát, nhập về thế giới tổ tiên.Sáng hôm sau, ông thầy cả sư­ pô xà lại làm lễ tẩy uế các bia kút và làm lễ tế các linh hồn tổ tiên lần cuối cùng. Con cháu trong gia tộc nằm lạy tổ tiên, cầu phúc cho mọi sự tốt lành.Sau lễ nhập kút, cả tộc họ phải kiêng cữ trong một năm không được làm đám cư­ới, đám tang vì họ cho rằng, các linh hồn ng­ười chết còn đang hóa thần trong kút. Nếu trong tộc họ có ngư­ời chết, phải làm lễ “chôn gửi” [11], không đư­ợc làm nghi lễ tang ma (vì chôn gửi ch­ưa đ­ược gọi là lễ tang).Đúng một năm sau, tộc họ lại mời thầy pà xế đến làm lễ mở cửa kút (pơ bơng kút). Linh hồn ng­ười chết coi như­ đã về với tổ tiên, coi nh­ư đã hóa thần và về xứ sở ông bà (nao n­gar muk kay). Theo quan niệm của ng­ười Chăm thì thế giới bên kia có ba cõi [12] những ng­ười chết “trọn vẹn” sẽ đ­ược giải thoát lên thiên đàng, còn những ng­ười “chết xấu” sẽ phải đến những vùng xấu hơn, thậm chí phải xuống địa ngục để chịu những cực hình tra tấn, lại có những linh hồn đư­ợc “tái sinh”, “hóa kiếp” nhập vào một đứa bé nào đó hoặc một con súc vật nào đó ở cõi trần, tuỳ theo dòng dõi tộc họ và công, tội khi còn sống ở nơi trần thế.

Hàng năm, vào ngày giỗ, cả tộc họ cùng nhau tổ chức ra thăm nghĩa địa và cúng kút.

3.     Một vài nhận xét về lễ nhập kút

        Xét về mặt tín ngưỡng, tục thờ kút đá của người Chăm có thể là tàn tích của tín ngưỡng thờ đá của hầu hết các tộc người trong tín ngưỡng nguyên thuỷ. B.E. Taylor cho rằng, tục thờ hồn đá có ở hầu hết các tộc người trên thế giới, đặc biệt là ở Ấn Độ: “Những nhóm đá xếp chồng dọc lên một cách đặc sắc ở Ấn Độ mô tả hay mang trong bản thân chúng những vị thần, ở nam Ấn Độ có thể thấy khắp trên những cánh đồng từng nhóm bốn hay năm hòn đá xếp thành hàng và bôi đỏ” [13, tr.739]. Một số nhà khoc học cho rằng, tục thờ đá xuất phát từ các dân tộc Đông Nam Á. Vì vậy, cũng có thể tín ngưỡng thờ kút của người Chăm không phải có nguồn gốc Ấn Độ mà từ truyền thống bản địa.

       Hiện nay, các gò đất cạnh bờ ruộng của người Chăm là những nghĩa địa với các biểu tượng kút bằng những cột đá. Hiện tượng này có thể là sự tương đồng văn hóa của nhiều cư dân Đông Nam Á. Theo PGS.TS Trần Lâm Biền, mộ của người Mường được viền đá xung quanh, những mộ của người Việt từ thời Lý, Trần đã được cắm những tảng đá lớn ở xung quanh. Cũng theo ý kiến của PGS.TS Trần Lâm Biền, những cột đá trên mộ, theo quan niệm của người Việt – Mường là “trục thông linh” nối cõi chết với cõi sống. Người Việt thường cho rằng, đêm đêm, những linh hồn người chết sẽ theo cột đá lên, ngồi ở trên đỉnh cột đá nhìn về làng xóm, tìm về người thân, nhớ về cõi sống. Người Chăm Bàlamôn thì cho rằng, kút là nơi cư ngụ của tổ tiên (On Proh) và được phụng thờ, là nơi làm các nghi lễ khấn vái của gia đình và tộc họ trong các dịp lễ hội Ka tê hàng năm. Cũng có thể, những cột đá mà người Chăm gọi là kút ấy cũng được người Chăm coi như là “trục thông linh” nối cõi sống với cõi chết, là con đường để tổ tiên về phù hộ cho người thân ở cõi sống trong những lần tế tự, cầu cúng.

     Qua những lý giải trên, với truyền thống văn hóa bản địa, việc thờ cúng tổ tiên là một nhu cầu tâm linh của cư dân Đông Nam Á. Có lẽ vì vậy, tục thờ kút như một biểu tượng cho những người đã khuất là tín ngưỡng thờ tổ tiên xa xưa của người Chăm, được khôi phục lại nhằm mục đích cố kết cộng đồng và đáp ứng như cầu thờ tổ tiên vào những thế kỷ sau này. Vì vậy, theo chúng tôi, tục thờ kút là một hiện tượng phái sinh của tôn giáo Ấn Độ. sau một thời gian dài, người Chăm Bàlamôn bị khép kín về mặt tôn giáo, không có mối liên hệ với các dân tộc theo Bàlamôn giáo trên thế giới, tín ngưỡng bản địa có dịp trỗi dậy, sức mạnh của yếu tố nội sinh đã làm biến đổi rất nhiều giáo lý, giáo luật của Bàlamôn giáo. Sự biến đổi ấy không chỉ thể hiện ở lễ tang mà còn ở nhiều phong tục, lễ nghi khác.

     Lễ nhập kút luôn đ­ược ng­ười Chăm và hệ thống chức sắc tôn giáo coi trọng, diễn ra theo những quy định chặt chẽ, về hình thức cũng như­ nội dung đ­ược bảo lư­u bằng văn bản cổ Chăm và đư­ợc các vị chức sắc Bàlamôn truyền lại từ đời này qua đời khác. Quan niệm cõi sống và cõi chết của người Chăm Bàlamôn là quan niệm “luân hồi giải thoát” – quan niệm của thời kỳ Vê đa, không tuân thủ luật “nhân – quả” (trừ những ng­ười thuộc “dòng chôn”), không chịu sự chi phối của “nghiệp”, “báo” như­ các giáo phái hậu Vê đa. Tuy nhiên, việc giữ lại chín miếng xương trán sau khi hỏa táng để linh hồn ng­ười chết nhập kút về với tổ tiên ít nhiều phá vỡ tư­ tưởng “luân hồi giải thoát”.

     Tín ngư­ỡng thờ kút đã nh­ư một thứ giáo lý của một kiểu tôn giáo dân tộc của người Chăm. Nhập kút là một phong tục mang nhiều giá trị văn hóa, giá trị đạo đức, giá trị xã hội, là một trong những rường cột cơ bản để cố kết cộng đồng người Chăm Bàlamôn theo một xã hội mẫu hệ truyền thống. Những nguyên tắc của tục nhập kút cũng là cơ sở khá vững chắc trong việc bảo lưu văn hóa truyền thống Chăm, đó là quan niệm vũ trụ, nhân sinh, cõi sống, cõi chết, tàn tích của giáo lý Bàlamôn kết hợp với tín ngưỡng thờ tổ tiên, ràng buộc mối quan hệ bền chặt từ vợ chồng, gia đình, tộc họ cho đến cộng đồng tôn giáo. Lễ nhập kút, bên cạnh sự rườm rà, phức tạp là môi trường bảo lưu các giá trị văn hóa nghệ thuật như âm nhạc, múa, tạo hình độc đáo của người Chăm.

     Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa, giá trị đạo đức, giá trị xã hội, tập tục nhập kút cũng có những vấn đề cần phải suy nghĩ, bàn đàm. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, tục nhập kút vô hình chung đã làm cho cộng đồng người Chăm tự khép kín mình. Bị ràng buộc bởi những quy định của tục nhập kút mà cho đến nay, người Chăm không dám kết hôn với người khác dân tộc, khác tôn giáo, thanh niên Chăm không được tự do yêu đương. Do sợ không đư­ợc nhập vào kút chính, không đư­ợc hóa thần về với tổ tiên nên những quy định về tục nhập kút đư­ợc ngư­ời Chăm tuân thủ tuyệt đối: Phải làm đầy đủ các nghi thức chuyển tiếp, phải có vợ, có chồng, con, phải tuân thủ luật tục hôn nhân đồng tôn giáo, đồng dân tộc, chết phải đủ 50 tuổi trở lên, chết toàn thây, phải chết tại nhà mình v.v… Những quy định khắt khe ấy đã hạn chế sự giao lưu xã hội của người Chăm, nhiều người không dám đi xa, thậm chí, ốm đau bệnh tật không dám đến bệnh viện vì sợ bị chết ở bệnh viện hoặc không dám phẫu thuật sợ bị cắt đi một phần thân thể v.v…Trong khi đó, tục nhập kút lại không quy định theo quan niệm “luân hồi nghiệp báo” nên việc sống ở cõi trần tốt hay xấu không quan trọng, miễn là “chết trọn vẹn” là người chết được làm lễ nhập kút, linh hồn được giải thoát lên thiên đàng, hóa thần về với thế giới tổ tiên.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa dân gian số 04 năm 2004

Chú thích và tài liệu tham khảo

1.        Hoàng Tâm Xuyên (chủ biên), (1999), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, bản dịch của Dương Thu ái và Phùng Thị Huệ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2.        Maspero. G. L. (1928), Vương quốc Chăm pa (Le royaume du Champa), Pari, bản dịch của Đào Từ Khải, tài liệu đánh máy.

3.        Sử Văn Ngọc (1978), “Đám ma người Chăm Bàlamôn ở Thuận Hải”, Trong: “Những vấn đề dân tộc học ở miền Nam Việt Nam”, tập 2, quyển 2, Ban Dân tộc – Viện KHXH  tại Thành phố Hồ Chí Minh.

4.        Vị vua Chăm thế kỷ XII, được coi là vị vua có công lớn trong việc dẫn thuỷ nhập điền ở vùng Panduranga.

5.        Theo ông Bố Xuân Hổ, người Chăm ở huyện Bắc Bình, tình Bình Thuận

6.        Phan Quốc Anh: Những quan niệm trong tang ma của ng­ười Chăm Bàlamôn – Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6 (84), 2002

7.        Ngoài những dòng họ được làm lễ hoả táng, người Chăm Bàlamôn còn có những dòng họ chỉ được chôn (xin xem thêm tài liệu tham khảo 6 và 12)

8.        Lễ hội Katê vào tháng 7 (Chăm lịch), lễ Chabul vào tháng 9 (Chăm lịch), người Chăm cũng có quan niệm “nam thất, nữ cửu”

9.        “Chiết a tâu” là một chiếc giỏ hình vuông được đan bằng tre, dùng để đựng y trang trong việc thờ cúng của hay tộc họ. Đây là một vật tổ thiêng để thờ cúng tổ tiên của người Chăm, muốn hạ “chiết a tâu” phải làm lễ cúng và có những điều kiện nhất định.

10.      Một loại đất sét pha cát, có tác dụng tẩy rửa như xà phòng.

11.      Chôn gửi hay chôn tạm là do gia đình chưa có điều kiện làm lễ hoả táng, sau khi chôn được một năm, gia đình đào hài cốt lên làm lễ hoả táng, gọi là lễ hoả táng khô.

12.      Phan Quốc Anh: Lễ hỏa táng của ngư­ời Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận – Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 3 (54), 2002.

13.      Tylor. E.B. (2001), Văn hóa nguyên thủy, bản dịch của Huyền Giang, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật xuất bản, Hà Nội.

Chia sẻ cảm nhận của bạn