Những đặc trưng dân gian của lễ hội Kate

alt

Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu “Lễ hội Chăm” của Sở văn hóa thông tin tỉnh Ninh Thuận thực hiện từ năm 1989 đến 1995. Công trình này đã sưu tầm điền dã, ghi chép và thu thập được tư liệu của 33 lễ hội lớn nhỏ của người Chăm ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Trong công trình này có bản thảo phần Lễ hội Katê do tác giả Lê Xuân Lợi biên soạn và có ghi băng hình lễ hội Katê của người Chăm Ninh Thuận. Tuy nhiên, công trình này mới chỉ dừng lại ở điền dã sưu tầm tư liệu, sự miêu tả khái quát lễ hội cũng chưa thật sự khách quan, có dấu ấn chủ quan của người ghi chép. Hơn nữa, vì một số lý do, công trình này cho đến nay vẫn chưa được biên tập, xuất bản.

Công trình thứ hai nghiên cứu lễ hội Katê là công trình “Lễ Hội Katê”, nằm trong chương trình bảo lưu văn hóa phi vật thể của Bộ Văn hóa thông tin, do Sở Văn hóa thông tin Ninh Thuận và Viện Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật phối hợp thực hiện năm 1998. Công trình này là công trình thực hiện bằng phương pháp ghi hình để bảo lưu tư liệu là chính, chưa phải là một công trình nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh.
Trong đại nam nhất thống chí có viết về lễ hội Katê nhưng chỉ là sự miêu tả nhận xét ban đầu
Trước đây, có một số tác giả nước ngoài viết về lễ hội Katê nhưng chỉ mới là sự miêu tả như

Kể như chữ “Katê”, những nhà Chăm pa học, trong đó có cả những nhà nghiên cứu người Chăm vẫn chưa có căn cứ để giải thích một cách thuyết phục về thuật ngữ này. Là một lễ hội lớn, Katê mang đầy đủ các đặc trưng của văn hóa dân gian, thông qua đó có thể nghiên cứu sâu các lớp văn hóa đã bị lịch đại chồng xếp thành những cơ tầng văn hóa phức tạp. Bài viết này chỉ xin dừng lại ở vài nét phân tích những đặc trưng của văn hóa dân gian (VHDG) thông qua quan sát thực địa lễ hội Katê tại Ninh Thuận.
I. Khái quát lễ hội Katê
1. Không gian lễ hội
Katê là lễ hội cộng đồng lớn nhất của người Chăm theo đạo Bàlamôn. Lễ hội diễn ra tại các đền tháp ở tất cả các Plây (làng) Chăm Bàlamôn thuộc 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, tập trung ở 4 địa điểm chính: tại đền thờ mẫu Pôinưgar ở làng Hữu Đức, tại miếu Pôbinthuôn ở làng Bĩnh Nghĩa, tại Tháp Chàm Pôklongirai và tháp Pôrômê.
2. Thời gian lễ hội
Lễ hội Katê diễn ra vào ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm, thường là vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 dương lịch. Đây là thời điểm cuối thu, mùa màng đã thu hoạch xong.
3. Nội dung lễ hội
3.1. Chủ lễ
Trước ngày tiến hành lễ, các vị chức sắc tôn giáo Bàlamôn của các vùng bầu ra một ban chủ lễ gồm: một thầy cả (Podhia) làm chủ lễ; một thầy kéo đàn Kanhi (Onkadhar), còn gọi là thầy cò ke kéo đàn kiêm hát lễ; một bà bóng (Mukpayăn) nhảy múa tế thần; một ông từ (Camưnây) chủ trì lễ tắm tượng.
3.2. Lễ rước y phục
Tại đền Pôinưgar: Từ 12 giờ đến 13h30 phút trưa ngày 30 tháng 6 Chăm lịch, tại đầu làng Hữu đức diễn ra lễ rước y phục của mẹ xứ sở Pôinưgar. Từ sáng sớm, đoàn người Chăm được cử lên vùng núi Phước Hà để đón y phục do đoàn người Raglai gùi xuống. Đoàn chức sắc Bàlamôn cờ quạt võng lọng ra đầu làng làm lễ đón. Sau đó y phục được kiệu rước về miếu Pôinưgar.
Tại đền Pôklongirai: 5 giờ sáng ngày 1 tháng 7 Chăm lịch, ông Kamưnây dâng lễ vật cúng thần để nhận và rước y phục lên tháp Pôklongirai. Đoàn rước được sắp xếp như sau: dẫn đầu là đoàn người Raglai đóng khố đánh mã la, thổi khèn bầu, theo sau là thầy cả chủ lễ, đến thầy cò ke, bà bóng, kế đến là tốp múa quạt nữ và các nhạc công đánh trống ghi năng, thổi kèn saranai, cuối cùng là đoàn người cầm cờ, võng lọng và kiệu rược y phục. Từ xã Phước Đồng lên đến tháp Pôklongirai khoảng 6 km. Đoàn rước đi đến đâu, cư dân ở các làng Chăm nhập vào đoàn người dài hàng km lên tháp. Các phụ nữ Chăm mặc trang phục lễ hội, đầu đội mâm lễ lên Tháp.
3.3. Lễ mở cửa tháp
Tháp Chàm Pôklongirai có 3 phần, tháp cổng, tháp lửa, tháp chính. Cổng tháp quay mặt về hướng đông. Trước mặt tháp chính có một sân gạch cao hơn 1 mét dùng để biểu diễn văn nghệ và để cúng lễ mở cửa tháp. Khi đoàn rước lên đến Tháp, đoàn người Raglai tiếp tục lên sân gạch đánh mã la, thổi khèn bầu, tiếp đó là màn múa quạt do các thiếu nữ Chăm xã Phước Đồng trong trang phục áo dài Chăm với những gam màu sáng rất đẹp, đầu quấn khăn, lưng thắt đai thổ cẩm màu tím đỏ và một đai thổ cẩm bắt chéo trước ngực. Sau khi kết thúc màn múa hát,  lễ mở cửa tháp được tiến hành. Hai ông Kamưnây và Podhia tiến hành cúng xin phép thần Siva cho mở cửa tháp. Lễ vật gồm có rượu, trầu cau, nước tắm có pha trầm.
Trong không khí trang nghiêm, thầy lễ hát: “Chúng con lấy nước từ con sông lớn (sông Hằng) đội về để tắm thần, thần là thần của cả trời đất. Chúng con xin lấy những tấm khăn đẹp nhất mà chúng con đã dệt nên để lau mồ hôi trên mìnhn trên tay chân của thần”2. Đọc xong lời nguyện cầu, ông Kamưnây cầm lọ nước thánh tạt lên bức phù điêu tượng thần Siva trên vòm cửa tháp. Lễ thức này đã được tính theo thời gian chặt chẽ theo ánh sáng mặt trời. Khi các thầy chuẩn bị lễ vật xong thì ánh nắng mặt trời vừa chiếu lên cửa tháp, cửa tháp đựơc mở ra trong khói hương trầm nghi ngút.
3.4. Lễ tắm tượng
Ông Kamưnây cầm lọ nước thơm dội lên pho tượng thần Pôklongirai và mọi người bắt tay vào tắm cho thần. Thầy Kanhi hát: “Chúng con mang nước này từ con sông thiêng (sông Hằng) về để gội đầu, rửa chân, rửa tay cho thần. Chúng con xin lấy những tấm khăn đẹp nhất mà chúng con dệt nên để lau mồ hôi cho thần…” Những người dự lễ lấy nước chảy từ trên pho tượng bôi lên đầu, lên khắp thân thể mình để cầu mong cuộc sống may mắn, hạnh phúc.
3.5. Lễ mặc y phục cho thần
Thầy Kanhi hát đến đâu, nghi thức mặc y phục cho thần được thực hiện đến đó, trình tự như sau:
Đầu tiên là lễ mặc váy: “Nghe tiếng thác đổ trên cao, vua Pôklongirai đã tắm xong, người mặc váy có viền những bông hoa được thêu rất đẹp về dự lễ với chúng con…” và cứ như vậy thần lần lượt được mặc váy, thắt lưng, mặc áo, đội mũ, mang dày.
3.6.  Đại lễ
Khi thần Pôklongirai đã mang trên mình  bộ long bào lộng lẫy là bắt đầu đại lễ. Các lễ vật, trong đó có rượu, gạo, cau, trầu, vỏ sò… được bày ra trước bàn thờ theo biểu tượng Âm, Dương. Đại lễ thực chất là sự trình tấu của thầy Kanhi với những bài hát lễ rất phong phú. Bà Bóng theo lời hát lễ mà dâng rượu mời thần, thầy chủ lễ rẩy nước thánh, thần dân không  ngừng chắp tay cầu mong thần phù hộ. Lời hát lễ trong đại lễ là một kho tàng VHDG đặc sắc nhất của người Chăm. Hãy nghe lời hát về mẹ xứ sở Pôinưgar:
“Thần là nữ thần xứ sở vĩ đại. Thần mẹ đã sinh ra đất, con người. Thần mẹ cho trần gian cuộc sống, cho cây cối tốt tươi, cho con người nảy nở. Thần mẹ đã sinh ra cây lúa, ruộng vườn tốt tươi…”;
Hát về vua – thần Pôklongirai: “Ngài Pôklongirai, ngài đã dựng lên tảng đá vĩ đại, ngài đem ngăn sông đắp đập giữa núi, dân làng phủ phục dưới chân ngài, tôn kính ngài lên làm vua, xây tháp, tạc tượng thờ ngài…”
Trong khi thầy Kanhi hát, thầy cả sư đọc kinh cầu nguyện. Kết thúc cuộc lễ là điệu múa thiêng của bà bóng. Trong khi bà bóng múa, bà con đi dự lễ cũng chúc tụng nhau và vui múa say sưa trong những diệu dân ca, dân vũ, trong nhịp trống ghi năng rộn rã, tiếng kèn saranai réo rắt. Bà con lần lượt bày mâm lễ vật của mình ra và dâng cúng, tiếp theo đó là lễ tạ, lễ ban ơn, sau đó làm lễ đóng cửa tháp về tổ chức lễ Katê ở làng.
Lễ Katê ở làng:
Buổi sáng ngày hôm sau mọi người làm lễ cúng ở làng, mỗi làng lại có một vị thần riêng của mình. Sau đó, ở các dòng họ, ở các gia đình tổ chức cúng riêng, chủ lễ là chủ gia đình hoặc chủ họ (theo mẫu hệ). Vào ngày lễ, các thành viên trong gia đình từ khắp nơi tụ mặt đầy đủ, cầu mong thần linh tổ tiên phù hộ cho làm ăn phát đạt, gặp nhiều điều tốt lành. Trong dịp này, mọi người kéo nhau đi chúc tụng, thăm viếng nhau nhộn nhịp. Các plây Chăm trong những ngày này rực rỡ, ngập tràn niềm vui với những cuộc thi đấu thể thao, thi dệt thổ cẩm, các trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ. Cứ như thế, tết Katê kéo dài cả tháng.
II- Katê – Lễ hội thể hiện đầy đủ những đặc trưng của văn hoá dân gian.
1. Đặc trưng nguyên hợp
Lễ hội Katê là một lễ hội cộng đồng mang tính chỉnh thể nguyên hợp gần như trọn vẹn. Không gian và thời gian rất rộng, phong phú đa dạng về thể loại văn hoá dân gian, nó qui tụ cả liên ngành, đa ngành. Lễ hội chứa đựng tất cả các thành tố dân gian như phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng, âm nhạc, múa, ngữ văn, diễn xướng và tri thức dân gian. Lễ hội thể hiện sự tổng hợp về năng lực tổ chức điều hành cao, chặt chẽ, thống nhất, toàn diện từ các vị chức sắc, từ cộng đồng hàng vài chục nghìn người Chăm Bàlamôn cho đến tận các làng, các gia đình và cá nhân. Có thể bước đầu nhận dạng các đặc trưng VHDG qua lễ hội Katê như sau:
1.1. Lễ hội của cách nhìn thế giới sơ khai nguyên hợp giữa âm và dương
Katê là lễ hội biểu hiện một nửa của cấu trúc lưỡng hợp thuộc về dương đối lập với yếu tố âm-lễ Chabul (lễ cúng các vị nữ thần vào tháng 9 lịch Chăm). Người Chăm cũng như các cư dân nông nghiệp lúa nước Đông Nam á luôn nhìn vũ trụ bằng quan niệm âm dương. Cấu trúc lưỡng hợp ấy đặc biệt thể hiện phổ quát ở người Chăm. Người Chăm luôn chia sự vật ra làm hai nửa: ngày – đêm; sáng – tối; cao – thấp; đực – cái; linga – yoni; trống ghinăng – trống pa ranưng… Tất cả những quan niệm đó đều được biểu tượng hoá từ văn hoá vật thể đến phi vật thể mà chúng ta có thể nhận thấy ở khắp mọi nơi, từ kiến trúc điêu khắc đến nghệ thuật biểu diễn, lễ vật… Ngay ở bên trong lòng Tháp, nơi làm đại lễ có tượng vua – thần Pôklongirai. Cả bức tượng vua là một chiếc linga bằng đá được cắm lên bệ đá hình yoni. Trong lễ tắm tượng, mọi người hứng lấy nước tắm linga-yoni để bôi lên đầu, lên thân thể để cầu mong sự tốt đẹp…Tất cả những biểu tượng phồn thực ấy chỉ cầu mong sự sinh sôi nảy nở của con người, vật nuôi cây trồng, mùa màng tốt tươi. Đó là lớp văn hoá sơ khai của cư dân nông nghiệp lúa nước mang nặng yếu tố nguyên hợp bản địa.
1.2. Nghi lễ nông nghiệp lúa nước
Xưa nay, người ta coi Katê tương tự tết nguyên đán của người Việt. Trong “Đại Nam nhất thống chí” có đọan viết: “Tục Chăm thì hàng năm cứ tháng 10, tức như tháng giêng của Kinh là Tết. Đến kỳ thì sắm đủ cỗ bàn cúng tiên tổ, hội khách khứa bạn bè.”1 Đoạn trích trên đã coi lễ Katê như là tết Nguyên đán của người Kinh. Người Chăm  có rất nhiều lễ hội trong năm, nhưng đây là lễ hội lớn nhất, cũng có đầy đủ thịt mỡ dưa hành, heo, gà, vịt, dê, bánh, mứt, kẹo… (chỉ kiêng thịt bò). Trong những ngày lễ hội, từ các làng Chăm cho đến các đền tháp được tổng vệ sinh, trẻ già trai gái mặc quần áo mới và luyện tập thể thao, văn nghệ để thi đấu, biểu diễn. Như vậy, xét cả về hình thức và nội dung, người Chăm coi Katê như là tết cổ truyền Nguyên đán của người Kinh vậy.1 Tuy nhiên, tết nguyên đán của người Kinh là tết năm mới theo âm lịch. Người Chăm cũng có tết năm mới, đó là tết chuyển mùa (Rica nưgar). Tết này diễn ra vào cuối tháng 2 lịch Chăm (khoảng tháng 4 dương lịch), đó là vào dịp sao rua xuất hiện, là bắt đầu mùa mưa. Tết này trùng với tết sôông kran của người Thái, tết bunpimay của người Lào và tết Chon chnam thmây của người Khơme1
Tìm hiểu tư liệu trong các thành tố văn hoá dân gian như  con sò biển trong vật lễ cúng Katê, động tác chèo thuyền trong múa đạp lửa…Chúng ta dễ dàng nhận thấy người Chăm xa xưa có nghề biển. Nhưng không biết tự bao giờ, người Chăm đã chuyển hẳn sang làm nông nghiệp lúa nước. Sử Trung Quốc, trong Yingya Shenglan về Chiêm Thành có ghi: “ Nhiều người làm nghề chài lưới, ít người làm nghề gieo trồng, bởi vậy thóc gạo không nhiều”1.
Trong muùa “Ñáp löûa”, Baøi túng ca maø ođng thaăy voê haùt leđn ñeơ ođng boùng muùa theo laø baøi túng ca Pođtaíng Ahok, moôt ngöôøi ñi bieơn taøi ba loêi lác. Ñoâi vôùi ngöôøi Chaím, xöa nay, noùi tôùi Pođtaínghok töùc laø noùi tôùi vieôc ñi bieơn. Haõy nghe lôøi haùt ca ngôïi Pođtaínghok trong vuõ ñieôu cheøo thuyeăn:

“Ngöôøi ñôøi coù nhaø ñeơ ngụ
Ngöôøi caât choê ngụ ngoaøi ñái döông
Ngöôøi ñôøi coù nhaø ñeơ ôû
Ngöôøi laøm nôi cö ngú giöõa ñái döông…”

Cuøng vôùi lôøi haùt laø tieâng troâng Ghi naíng, Pa ranöng, tieâng keøn Sa ranai roôn raøng, daôp doăn nhö soùng bieơn, ođng thaăy boùng caăm maùi cheøo hoaịc cađy mía muùa ñoông taùc cheøo thuyeăn theo tieâng soùng bieơn aây.Động tác chèo thuyền cụa ođng thaăy boùng noùi tređn, ngoài ý nghĩa tiễn đưa muøa khô, phải chăng là mảnh vụn của một thời người Chăm có nghề ñi bieơn, chài lưới và ngư nghiệp.
Theo Ñái Vieôt söû kyù toaøn thö…

Còng theo các tài liệu trên thì nghề biển của người Chăm cũng không phát triển, không có thương mại giao thông biển ở qui mô lớn.
Lễ hội Katê diễn ra vào cuối thu, vào lúc mùa màng đã thu hoạch xong. Đây là biểu hiện sơ khai nguyên hợp của nghi lễ nông nghiệp lúa nước. Người Lạc Việt từ xa xưa cũng mở hội vào mùa thu. Sách Hán thư (Trung Quốc) chép rằng người Lạc Việt đến mùa thu tháng tám thì mở hội. Sách Thái bình hoàn vũ ký (Trung Quốc) viết rằng người Lạc Việt không biết tết, biết năm, cứ lấy ngày sửu, tháng tám làm ngày hội, già trẻ chúc tụng nhau, coi đó là ngày đầu năm2. Có lẽ, có một sự trùng hợp nào đó về thời gian lễ hội của cư dân nông nghiệp lúa nước từ xa xưa.
Trong lễ Katê xuất hiện cả những nghi thức cầu mưa, lời hát lễ của ông thầy Kanhi có đoạn: “Nước về đập vỡ ào ra, trai làng chất đá đắp đập ngăn sông. Trai làng bơi thuyền trên sông nước…”. Phải chăng là ảnh xạ khát vọng cầu mưa của cư dân nông nghiệp. Vùng Panduranca (Phan Rang) ba phía bị núi non bao bọc, chỉ có phía đông là hướng ra biển nên lượng mưa ở đây thấp nhất toàn quốc (695m/m) và chỉ mưa trong thời gian 52 ngày. Theo sử Trung Quốc, đoạn miêu tả Chiêm Thành trong Lingwai Daida, soạn năm 1178, có ghi: “Tất cả đất đai đều là cát trắng, đất trồng trọt được thì rất hiếm…”. “…Chiêm Thành có nhiều giống lúa nhanh chín, có thể chịu đựng được cả khô hạn và ngập nước, vì vậy mà thích hợp với những đều kiện thuỷ lợi không thuận…”3. Có lẽ vì vậy, ngoài lễ Yôn Yang (Lễ cầu đảo) chính thức ra, trong lễ hội Katê cũng có yếu tố cầu mưa. Có một điều lạ là hàng năm vào dịp Katê, ban ngày làm lễ ở tháp bao giờ cũng nắng gắt, nhưng ban đêm trong những ngày Katê lại có mưa. Phải chăng lời cầu trong nghi lễ đã được đền đáp?
1.3. Lễ cúng vua – thần
Xưa nay mọi người vẫn dịch “Pô” là “vua”. Trong truyền thuyết cũng như các nhân thần được thờ của người Chăm có rất nhiều “Pô”. Nếu dịch “Pô” là “vua” cũng không đúng lắm, có thể dịch là “thủ lĩnh” được chăng? Ngay trong lễ hội Katê, rất nhiều nhân thần là “Pô” được thờ cúng như Pôklongirai, Pôrômê, Pô klonghalau, Pôbinthuôn và cả thờ mẫu Pôinưgar. Tuy nhiên, Pôklongirai và Pôrômê là hai vị vua Chăm thế kỷ 13 và thế kỷ 16. Hai vị vua này đều có công rất lớn. Đặc biệt từ thế kỷ 13, Pôklongirai là vị vua chỉ huy xây dựng đập thuỷ lợi Nha Trinh, cho đến nay vẫn là công trình thuỷ lợi lớn nhất ở Ninh Thuận, vẫn đang tưới nước cho cả vùng sa mạc cằn khô Panduranca. Những nhân vật này sau khi chết đã được nhân dân tôn thành thần, xây tháp tạc tượng thờ. Hãy nghe lời ông Kamưnây hát kể công tích thần Pôklongirai: “Ngài Pôklongirai, ngài đã dựng lên tảng đá vĩ đại, ngài đem ngăn sông đắp đập giữa núi, dân làng phủ phục dưới chân ngài, tôn kính ngài lên làm vua, xây tháp tạc tượng thờ ngài…”. Hát ca ngợi Pôrômê: “Nước tràn về đập vỡ ra rồi. Pôrômê đã hiện ra đắp đập ngăn nước, dẫn vào ruộng cho dân cày cấy…”
2. Lễ hội nguyên hợp biểu hiện tính đồng đại trong không gian, thời gian và tính cộng đồng
Katê là lễ hội cộng đồng lớn nhất của người Chăm, diễn ra trên một không gian rộng lớn, từ đền lên tháp xuống làng, từ làng đến các dòng họ, các đại gia đình, đến từng nhà, được tổ chức lần lượt theo một thứ tự trật tự tạo thành một dòng chảy phong phú đa dạng như đã mô tả ở phần trên. Trong tháng lễ hội, 16 làng Chăm theo Bàlamôn giáo ở Ninh thuận và toàn thể các làng Chăm ở Bình Thuận với hàng chục nghìn người chìm  trong môi trường lễ  linh thiêng và không khí hội náo nhiệt. Lễ hội Katê phản ánh thực tại xã hội, đạt đến sự thoả mãn về mặt tâm linh và niềm tin, khát vọng của người dân nên ý thức tự giác của mọi người rất cao.
Môi trường không gian và thời gian của lễ hội Katê đã phản ánh đúng như nhận thức, quan niệm của người Chăm về thiên nhiên, về mối quan hệ âm dương, mối quan hệ trần tục với thần linh và quan trọng hơn cả là phản ánh thực tại xã hội. Người Chăm xa xưa cũng nhận thức cuộc sống, thiên nhiên và xã hội có sự hài hoà, nhiều màu vẻ và phản ánh nó trong một hình thức đa hợp nhiều thành tố trong lễ hội Katê. Đặc trưng nguyên hợp trong Katê thể hiện hệ quả tính nguyên hợp trong nhận thức của cư dân Chăm, quan niệm con người là tiểu vũ trụ, là thành phần không thể tách rời của thiên nhiên và xã hội, tức là thực tại. Đây là một biểu hiện rõ nét một trong những đặc trưng của VHDG.
4. Lễ hội thể hiện tính nghệ thuật nguyên hợp phong phú đa dạng
Trong lễ hội Katê, các thành tố VHDG đồng thời diễn ra trong một thời gian xác định. Nghệ thuật tạo hình, kiến trúc trên các đền tháp Chăm đều đã đạt đến trình độ nghệ thuật biểu tượng hoá rất cao. Có thể nói mỗi bức phù điêu, mỗi nét hoa văn trong nghệ thuật tạo hình Chămpa đều ẩn chứa sâu sắc những quan niệm, tín ngưỡng tôn giáo của sự chồng xếp lịch đại của các cơ tầng văn hoá trong suốt chiều dài lịch sử. Trong không gian rộng lớn và thời gian kéo dài của lễ hôi Katê, chúng ta có thưởng thức rất nhiều chương trình biểu diễn của nghệ thuật dân gian Chăm. Người Chăm có một kho tàng nghệ thuật dân gian rất phong phú và đa dạng mang tính nguyên hợp rõ nét. Trong tiếng trống paranưng, tiếng trống ghi năng rộn rã là tiếng kèn saranai, tiêng đàn kanhi réo rắt du dương, bi ai như tiếng vọng từ ngàn xưa. Trong âm nhạc dân gian Chăm có  nhiều những cung bậc gần với dân ca quan họ Bắc Ninh, phải chăng có sự tiếp biến, giao thoa nào đó trong lịch sử? Tiếng hát lễ của thầy Kamưney, thầy Kanhi và điệu múa thiêng của bà bóng là cả một nghệ thuật diễn xướng đạt tới đỉnh cao của sự linh thiêng, như sợi dây nối trần tục với thần linh. Trong nền nhạc vừa dồn dập vừa réo rắt ấy là dàn múa múa quạt của các thiếu nữ Chăm uyển chuyển, nhịp nhàng, đạt tới đỉnh cao của múa dân gian. Chúng tôi đã từng thể nghiệm, cho các nhạc công chuyên nghiệp đánh trống ghinăng, thổi kèn saranai, cho các diễn viên múa chuyên nghiệp học và múa thử những điệu múa dân gian Chăm nhưng đều thất bại. Không ai có thể thổi vào những động tác, những âm thanh ấy cái hồn thiêng của lễ hội dân gian.
5. Tính chồng xếp lịch đại
Một hiện tượng chưa giải mã được trong lễ hội Katê là tại sao người Raglai lại cất giữ y phục của các “Pô – thần” Chăm, sau lễ hội lại đưa cho người Raglai mang về núi? Y phục của mẹ xứ sở Pôinưgar do người Raglai ở Phước Hà cất giữ, đến ngày lễ hội người Chăm phải đi rước như đã mô tả ở trên. Riêng y phục của Pôklongirai trước đây do người Raglai ở thôn Tà Dương lưu giữ,  ngày nay y phục này đã được trao cho người Chăm ở thôn Phước Đồng quản lý. Do vậy, nghi lễ rước y phục ở tháp Pôklongirai do người Chăm tiến hành với sự có mặt của đoàn đại biểu người Raglai chỉ còn mang tính tượng trưng. Điều này ghi dấu ấn của sự chồng xếp, thay đổi theo lịch đại.
Tượng các vua – thần được tạc trên chiếc linga cũng là biểu hiện của tính chồng xếp lịch đại. Tín ngưỡng phồn thực có từ xa xưa nhưng hai vị vua – thần này mới được tôn thờ ở thế kỷ 13 và thế kỷ 16. Việc thờ vua-thần sau này đã được chồng xếp lên tín ngưỡng phồn thực âm dương từ thuở xa xưa.
Phần lễ của Katê ít thay đổi theo thời gian nhưng phần hội liên tục thay đổi, nhất là những năm gần đây. Lĩnh vực nghệ thuật dân gian có sự thay đổi mạnh, nhiều sáng tác, phóng tác ca múa nhạc mới được đưa cả vào phần văn nghệ trước lễ. Chiếc trống paranưng ngày xưa được coi là vật thiêng, chỉ có ông thầy vỗ ( ông mư tồn – một chức sắc trong tôn giáo bàlamôn) mới đựơc sử dụng và chỉ ngồi xếp bằng, ôm trống trong lòng, vừa vỗ vừa hát  lễ. Vậy mà ngày nay, trống paranưng đã bị lấy làm đạo cụ múa hát khắp nơi. Những bức phù điêu, tượng đá Thần Siva và vũ nữ Trà Kiệu linh thiêng đã bị các nhà biên đạo múa dắt tay bước ra chốn linh thiêng, hoá thân vào các vũ nữ bằng xương bằng thịt, ăn mặc hở hang nhảy múa trong âm nhạc và ánh sáng hiện đại và gọi đó là múa cung đình Chăm. Các vị chức sắc và các cụ già Chăm đã nhiều lần có ý kiến nhưng cũng nhanh chóng bị lãng quên. Rõ ràng, những yếu tố văn hoá dân gian khi truyền lại cho đời sau đều đã bị biến dạng, nâng cao có, hạ thấp có để thích nghi với  đời sống  xã hội đương đại.
Trong các lời hát lễ của các ông thầy thể hiện rất rõ sự chồng xếp lịch đại từ các lớp văn hoá bản địa Chăm xa xưa nhất, đến các lớp văn hoá tôn giáo Bàlamôn cổ (chính nơi sản sinh ra đạo Bàlamôn ở ấn Độ lại đã mất đi nhiều yếu tố văn hoá này theo thuyết ngoại vi, trên biên) và các lớp văn hoá tiếp biến của các dân tộc khác qua các thời kỳ lịch sử. Nền văn hoá Chăm, cái nơi mà Katê được nuôi dưỡng là nền văn hoá chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá ấn độ, song Katê lại biểu hiện một lối đi riêng, một sự tiếp thu trộn vào văn hoá bản địa. Lời ca trong hát lễ không phải chỉ là các bài kinh cầu thần Siva mà là những tráng ca ca ngợi những vị thần núi, thần sông, thần mặt trời, thần lúa; ca ngợi những vị “Pô” hiền, những người đã có công trong việc đưa lại ấm no hạnh phúc cho dân lành, ca ngợi thiên nhiên đất nước, kể về công việc dẫn thuỷ nhập điền, công việc đồng áng, mùa màng, cầu cho mưa thuận gió hoà, kể tên trăm hoa, trăm quả, cầu mong cuộc sống thanh bình yên ả chốn plây Chăm.
Tính chồng xếp lịch đại còn thể hiện rõ trong vật lễ cúng ở đền tháp Chăm. Trong vật lễ có 1 đĩa gạo và 3 chiếc vỏ sò, gạo có thể là tượng trưng cho tục thờ gạo (hồn lúa) của cư dân nông nghiệp, lịch sử  ghi rằng người Chăm xưa đã cung cấp cho những cư dân Đông Nam á  giống lúa Chiêm nổi tiếng. Những động tác chèo thuyền trong múa đạp lửa, những vật lễ như vỏ sò là biểu hiện lùi xa hơn nữa của một thời người Chăm gắn với nền kinh tế biển. Trong múa phồn thực“âm dương” miêu tả các động tác giao hợp đực cái, miêu tả sự cho và nhận có thể có từ thời nguyên thuỷ, thời tạp hôn của người Chăm trước khi có sự ràng buộc của hệ gia đình một vợ một chồng và sự chi phối hôn nhân của tôn giáo Bàlamôn. Hiện tượng bà bóng, lên đồng, một số bài bản nhạc Hoa trong nhiều nghi lễ của người Chăm cũng là những hiện tượng cần được nghiên cứu, giải mã.
Tính dị bản
Mặc dù người Chăm có nền văn minh phát triển, có ngôn ngữ và chữ viết từ rất sớm nhưng đã bị thời gian phủ mờ. Những chữ Chăm cổ (chữ Phạn) còn khắc rất đậm trên  cột đá ở cửa tháp Pôklongirai chưa ai đọc và dịch ra được. Chữ Chăm trong các thư tịch cổ có rất nhiều dị bản, nhiều loại chữ khác nhau do bị thay đổi qua nhiều thời kỳ. Việc xác định ngày tháng làm lễ hội Katê giữa các vị cả sư ở các vùng khác nhau không thống nhất. Hàng năm, trước mùa Katê các vị cả sư phải ngồi lại với nhau để họp bàn thống nhất lịch. Những lời hát lễ, hát cúng hầu hết là truyền miệng nên có rất nhiều dị bản. Có rất nhiều dị bản về các truyền thuyết Các tháp Chàm ở Ninh thuận.  Xoay quanh những hoàng hậu, trong đó có hoàng hậu người Việt của Pô rô mê cũng có rất nhiều lời kể khác nhau. Đó là điều tất yếu khi văn hoá dân gian có đặc trưng vận động trong không gian và thời gian. Tuy nhiên, do có chữ viết từ rất sớm nên người Chăm có một khối lượng tư liệu rất quí giá ở trong các thư tịch cổ mà hiện nay Trung tâm nghiên cứu văn hoá Chăm Ninh Thuận đang sưu tầm, nghiên cứu, giải mã.
III-Kết luận.
Katê là một lễ hội lớn của người Chăm nói riêng và là một trong những lễ hội rất có giá trị của văn hoá Việt Nam nói chung. Lễ hội Katê như một bảo tàng sống, thông qua nghiên cứu những đặc trưng dân gian của nó, chúng ta có thể tìm hiểu, giải mã các lớp từ văn hoá  bản địa đến các lớp văn hoá tiếp biến các nền văn hoá khác, các lớp văn hoá tôn giáo, tín ngưỡng rất phong phú và cũng rất huyền bí, phức tạp của suốt chiều dài lịch sử văn hoá Chăm pa. Trong phạm vi một bài tiểu luận, không thể có tham vọng lớn mà chỉ gợi mở và đặt vấn đề để tiếp tục nghiên cứu, khám phá. Đã đến lúc cần có những công trình khoa học lớn và liên ngành để bóc tách các tầng lớp văn hoá khác nhau đã bồi tụ trong lễ hôị Katê, qua đó có thể giải mã một cáhoặc khoa học những biểu tượng văn hoá Chăm, góp phần hiểu và gìn giữ một sắc màu văn hoá đặc sắc trong bức tranh tổng thể phong phú, đa sắc màu văn hoá Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
1- Đinh Gia Khánh, Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian, Nxb KHXH, Hà Nội 1989.
2- Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên), Văn hoá dân gian,những phương pháp nghiên cứu, Nxb KHXH, Hà Nội 1990.
3- Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), Quan niệm về folklore, Nxb KHXH, Hà Nội, 1990.
4- Nguyễn Chí Bền, Văn hoá dân gian những suy nghĩ, Nxb VHDT,Hà Nội, 1999.
5- Lê Ngọc Canh, Văn hoá dân gian những thành tố, Nxb VHTT, Trường Cao đẳng VH TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999.
6- Lễ hội Katê của người Chăm Ninh Thuận, đề tài Văn hoá Phi Vật thể, Sở VHTT Ninh thuận,1999.
7- Xem Phan Quốc Anh, Lễ hội Katê của người Chăm Ninh Thuận, Tạp chí VHNT số 5,1999.
8- Ngô Văn Doanh, Lễ hôi Rica nưgar của người Chăm, Nxb VHDT, Hà Nội, 1998.
9-  ( Chuyển dẫn): Momoki shiro,Chăm pa chỉ là một thể chế biển? Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 4,1999.
10- Xem: Ngô Văn Doanh, Vũ điệu đạp lửa trong lễ hội Ricanưgar của người Chăm, tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 5, 1999.

TS Phan Quốc Anh

Nguon: http://phanquocanh.com/index.php?option=com_content&view=article&id=71:nhng-c-trng-ca-l-hi-ka-te&catid=107:l-hi&Itemid=99

Chia sẻ cảm nhận của bạn