Cồng chiêng – Văn hoá cồng chiêng của người Jrai

Jrai là một trong số 5 tộc người Mã Lai – Đa Đảo (Chăm, Jrai, Ê đê, Ra glai, Chu ru) hiện đang sinh sống trên vùng đất Nam Trường Sơn – Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung bộ nước ta. Đây là dân tộc có số dân đông nhất trong các tộc người Malayo-Polinesien ở Việt Nam và đứng hàng thứ 9 trong cộng đồng 53 dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống trên đất nước ta (sau các tộc người: Tày, Thái, Hoa, Khmer, Mường, Nùng, H’mông, Dao). Trung tâm cư trú của người Jrai là tỉnh Gia Lai. Đây là dân tộc hiện còn lưu giữ số lượng lớn cồng chiêng cùng với những hoạt động văn hóa gắn với cồng chiêng.

Thực trạng cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng trong khu vực người Jrai 

Cuộc điều tra cồng chiêng trên địa bàn toàn tỉnh năm 2008 cho biết, trong khu vực 10 huyện có người Jrai sống tập trung ở tỉnh Gia Lai còn lưu giữ 3.373 bộ cồng chiêng. Trong đó, huyện còn nhiều nhất là Ia Grai: 1.116 bộ; Krông Pa: 517 bộ; Chư Prông 406 bộ. Những huyện còn ít cồng chiêng hơn là Ia Pa: 56 bộ; Ayun Pa: 74 bộ; Pleiku: 81 bộ.

Trong khu vực người Jrai, đặc biệt nổi lên xã Ia O (huyện Ia Grai) như một hiện tượng điển hình về bảo tồn cồng chiêng với số lượng lên tới 517 bộ; trong đó có 202 bộ chiêng quý. Rất nhiều làng thuộc xã Ia O có số lượng cồng chiêng lên tới 70 – 80 bộ như: làng Dăng có 86 bộ; làng Cúc có 80 bộ; làng Mít Jép có 78 bộ; làng Bi có 71 bộ; các làng Lân, O mỗi làng có 52 bộ cồng chiêng. Làng có ít cồng chiêng nhất của xã này là làng Mít Kom cũng có số lượng cồng chiêng lên tới 27 bộ.

Xã Ia O của huyện Ia Grai cũng có thể coi là “hiện tượng” trong việc lưu giữ cồng chiêng ở các hộ gia đình với hàng chục hộ lưu giữ trên 5 bộ chiêng. Đặc biệt có 2 hộ hiện đang lưu giữ 9 bộ cồng chiêng; 2 hộ khác lưu giữ 8 bộ cồng chiêng và điều đáng trân trọng nhất là những người dân ở đây vẫn coi cồng chiêng là những gì thiêng liêng nhất, những tài sản quý giá nhất.

Trong đợt điều tra này, chúng tôi thống kê được ở khu vực các huyện có đông người Jrai cư trú có 889 bộ cồng chiêng quý. Đó là những loại chiêng có giá trị cao, có nguồn gốc và tên gọi khác nhau tại các khu vực, các quốc gia, các dân tộc khác nhau: pơxơi, pát (chiêng Lào), yoăn cổ (chiêng Việt cổ), mơtrum kơbâo, kơđơ, tơnah, mông (rất có thể là chiêng của Trung Quốc hoặc cồng chiêng được làm bằng kỹ thuật gò của các làng nghề làm đồng dọc dải đất miền Trung Việt Nam)…

Cho đến nay, chưa có thông tin chính xác cho biết từ khi nào, cồng chiêng có mặt trong cuộc sống của đồng bào Jrai  nói riêng, Tây Nguyên nói chung. Nhưng có một điều dễ được chấp nhận là, trong nền kinh tế truyền thống của người Jrai, việc canh tác lúa rẫy mang lại nguồn sống chính cho con người. Do năng suất cây trồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên cùng với niềm tin “vạn vật hữu linh” nên trong suốt một mùa canh tác nương rẫy, người Jrai tiến hành rất nhiều lễ và lễ hội để cầu xin và tạ ơn các thần linh. Đối với việc canh tác, hai vị thần có ý nghĩa nhất theo quan niệm của người Jrai là: trời (yang Adai) và thần lúa (yang Hri). Những cư dân trong khu vực ảnh hưởng của pơtao Apui, khi bước vào mùa trồng trỉa cũng phải tiến hành những nghi lễ cầu cho “mưa thuận, gió hòa”.

Những nghi lễ trong chu kỳ canh tác nương rẫy có thể thực hiện trong phạm vi gia đình, nhưng cũng không ít lễ hội được thực hiện trong phạm vi cộng đồng, cồng chiêng được sử dụng ở những lễ quan trọng như một linh khí có chức năng thông linh, mang tâm tư, ý nguyện của con người tiến hành lễ hội đến với đối tượng được cầu xin.

Đặc điểm văn hóa – xã hội cổ truyền cũng là yếu tố quan trọng đòi hỏi sự hiện diện của cồng chiêng với chức năng của một linh khí trong giao tiếp với thần linh và là minh chứng cho sự giàu có của một bộ phận dân cư thuộc tầng lớp trên. Ngày nay, tổ chức xã hội duy nhất còn tồn tại trong khu vực người Jrai là làng (Plơi, zôn hoặc zuôn). Nhưng trước đây, ở một số vùng người Jrai đã manh nha hình thành một tổ chức xã hội vượt ra khỏi phạm vi làng độc lập gọi là tơring. Đây cũng là hình thức đầu tiên của những liên minh bộ lạc trong giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy.

Đối với chu kỳ canh tác nương rẫy, cồng chiêng được dùng chủ yếu trong các nghi lễ cầu mưa, cầu cho mùa màng tốt tươi, cúng tạ sau thu hoạch. Trong vòng đời của con người, cồng chiêng luôn có mặt trong những lễ nghi quan trọng nhất, đặc biệt là khi đưa tiễn con người trở về với thế giới tổ tiên

Đối với người Jrai nói riêng, cư dân Tây Nguyên nói chung, cồng chiêng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thông báo cho cộng đồng và các cộng đồng lân cận biết những sự việc liên quan đến con người như: thông báo có người chết, các nghi lễ liên quan đến tang ma. Nghệ nhân Nay Phai ở thị trấn Krông Pa còn nhớ có một số bài chiêng cổ có ý nghĩa trong vòng đời người như sau:

-Bài Trong hor (Chơkar trong hor) sử dụng chiêng Aráp, âm điệu buồn, đánh ngay khi trong nhà có người chết để báo cho dân làng mình và những làng xung quanh biết tin.

-Bài Chok kơ mơnuih djai âm điệu buồn, đánh bằng chiêng aráp khi đưa người chết từ nhà xuống sàn để khiêng ra nhà mồ.

-Bài Chok kơ arăng là bài tiễn đưa người chết, sử dụng chiêng aráp đánh trên đường đưa người chết ra khu nhà mồ và đánh lần thứ 2 khi chôn xong.

-Bài Anong thuach âm tiết vui tươi, dùng chiêng aráp đánh trong lễ bỏ mả.

-Bài Iâo tui dra juø đánh khi đi bỏ mả; mời gọi thanh niên đến tham dự lễ bỏ mả. Am điệu vui.

Bài Kơ dja đánh bằng chiêng tơnăh trong những lễ hội vui…

Người Jrai biên chế cồng chiêng thành những bộ có tên gọi riêng để phục vụ cho những công việc, những lễ hội cụ thể. Thông thường, một bộ chiêng chỉ được sử dụng trong những nghi lễ có tính chất tương tự:

– Chiêng tơnăh/ kơđơ: mỗi bộ có từ 8 – 9 chiếc cồng chiêng được biên chế với 1 trống lớn, chỉ dùng trong những lễ hội vui;

– Chiêng aráp: Mỗi bộ có 13 chiếc (nay số lượng cồng chiêng trong 1 bộ có thể nhiều hơn) thường chỉ dùng trong những nghi lễ liên quan đến tang ma.

– Bộ Mơtrum KơBâo gồm 3 cồng có núm, cái lớn nhất đường kính 50cm, cái thứ 2 đường kính 45 cm, cái thứ 3 đường kính 40 cm được biên chế cùng 1 hoặc 2 trống vỗ được người Jrai vùng Krông Pa dùng trong những lễ hội có trâu làm vật hiến sinh. Đánh vào lúc đi quanh cột gơng (có lẽ do ảnh hưởng của người Chăm Hroi ở vùng Sơn Hòa, Phú Yên).

– Nhiều gia đình, dòng họ giàu có người Jrai có những bộ chiêng riêng để sử dụng trong những nghi lễ của gia đình, dòng họ mình. Ví dụ Gia đình Kpă Li ở buôn Ama Nher A, xã Đất Bằng, huyện Krông Pa có 1 bộ chiêng Kơđơ nhưng chỉ dùng trong những lễ nghi của gia đình (không phân biệt buồn hay vui. Khi sử dụng bộ chiêng này thì vật hiến sinh phải là bò hoặc trâu). Bộ chiêng có 8 chiếc, biên chế cùng 1 trống lớn (đường kính mặt 1m). Tên của từng chiếc trong bộ chiêng như sau:

+Chiêng (không núm – 6 chiếc): tơnăh, Hơleng, Khok, Đai, Đai Hơleng; Sar Prông.

+ Cồng (có núm – 3 cái): ania, gup, đai gup.

Mỗi chiếc cồng chiêng của người Jrai cũng được đồng bào đặt tên. Cách đặt tên cho từng chiếc cồng chiêng trong một bộ thường căn cứ vào kích thước to nhỏ của chúng mà gọi là: chiêng bố, chiêng chị, chiêng em… Người ta cũng có thể căn cứ vào âm thanh cao thấp mà đặt tên như: ania, krak, mong, knak…

Người Jrai không tự đúc cồng chiêng nói riêng, đúc đồng nói chung nhưng do nhu cầu phải chỉnh sửa âm thanh cồng chiêng cho phù hợp với từng loại chiêng có các chức năng sử dụng trong những lễ hội khác nhau mà nghề chỉnh sửa cồng chiêng (đồng bào vẫn thường gọi là lên dây chiêng) đã ra đời. Tuy nhiên những người thợ có khả năng chỉnh sửa mang lại những âm thanh “chuẩn” cho các bộ chiêng Jrai không nhiều, và thường được “cha truyền con nối”.

Thử đề xuất một số giải pháp bảo tồn

Trước khi đề xuất một số  giải pháp bảo tồn cồng chiêng nói chung, cồng chiêng trong khu vực người Jrai  nói riêng, rất cần tìm ra những nguyên nhân, những yếu tố làm mai một cồng chiêng. Ở đây, chúng tôi không bàn đến yếu tố mai một của không gian văn hóa cồng chiêng nói chung, mà chỉ xét đến sự mất mát cồng chiêng hoặc cồng chiêng vẫn còn được cất giữ, nhưng không được sử dụng nữa.

Tuy nhiều huyện không báo cáo được số lượng cồng chiêng bị mất mát trong những năm qua, thậm chí ở một số huyện, số lượng cồng chiêng được kiểm kê trong đợt này còn tăng so với báo cáo của địa phương năm 2005, nhưng chúng tôi vẫn khẳng định rằng, việc cồng chiêng bị mất mát đã rất phổ biến trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Điều đó được thể hiện ngay trong tâm lý của người dân, nhiều gia đình mặc dù được vận động nhiều lần nhưng họ vẫn không cồng chiêng ra cho đoàn kiểm kê đo đạc vì sợ cồng chiêng bị mất. Ở huyện Krông Pa, chỉ tính riêng trong năm 2008 số lượng cồng chiêng bị mất đã là 13 bộ; cộng với số cồng chiêng bị bán là 4 bộ nữa nâng tổng số cồng chiêng thất thoát lên tới 17 bộ trong 1 năm, đó là con số đáng báo động.

 

Một vấn đề nữa là cồng chiêng hiện nay thường không được người mua đánh giá đúng giá trị của chúng. Việc trẻ em mang cồng chiêng ra bán lẻ từng chiếc cho những người đổi kem với giá của đồng nát đã khá phổ biến trong nhiều năm qua. Chúng tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh người chủ mang cồng chiêng ra đập cho dễ nhét vào bao cân ký tại các xã vùng sâu, vùng xa.

Để bảo tồn cồng chiêng trong tình hình hiện nay, theo chúng tôi có thể triển khai một số giải pháp sau:

–       Việc quan trọng nhất là phải giữ gìn được môi trường tồn tại của không gian văn hóa cồng chiêng. Có làm được như vậy, cồng chiêng mới được chính các chủ nhân tự giác bảo vệ.

–       Thông tin, tuyên truyền, vận động đồng bào hiểu rõ việc phải bảo tồn, phát huy giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng đối với đời sống tinh thần của đồng bào Tây Nguyên nói chung, văn hóa truyền thống của tộc người Jrai nói riêng để người dân có ý thức bảo tồn cồng chiêng.

–       Tổ chức truyền dạy, thành lập các đội cồng chiêng tại làng; tăng cường vận động, khuyến khích đồng bào sử dụng cồng chiêng trong các lễ hội cổ truyền và những ngày kỷ niệm;

–       Cần đặc biệt quan tâm đến việc truyền nghề chỉnh sửa cồng chiêng cho thế hệ trẻ, bởi số nghệ nhân chỉnh chiêng hiện không nhiều, lại đang ở độ tuổi rất cao. Nếu số lượng nghệ nhân chỉnh chiêng được nâng lên, số lượng cồng chiêng lạc âm sau khi được chỉnh sửa cũng nâng lên, bổ sung vào kho tàng cồng chiêng của tỉnh không ít bộ cồng chiêng giá trị.

–       Mở lớp dạy đánh cồng chiêng cho các em học sinh tại các trường phổ thông trên toàn tỉnh nói chung, đặc biệt là trong trường dân tộc nội trú để các em luôn có ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Việc làm này có thể lồng ghép trong chương trình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đang được triển khai giữa hai bộ Giáo dục – Đào tạo và VHTTDL.

–       Ngành VHTTDL các cấp cần thường xuyên tổ chức các đợt liên hoan cồng chiêng, dân ca, nhạc cụ dân tộc để đồng bào nâng cao hơn nữa ý thức bảo tồn.

–       Khuyến khích việc sử dụng cồng chiêng như một nhạc cụ thông thường, để cồng chiêng không quá bị gò bó bởi môi trường và điều kiện sử dụng.

–       Đề nghị đầu tư kinh phí tiến hành lập hồ sơ, chụp hình những bộ cồng chiêng cổ quý hiếm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, điều tra khi bị mất cồng chiêng; phối hợp với công an xã, huyện có kế hoạch quản lý, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.

–       Đề nghị hỗ trợ một khoản kinh phí cho các gia đình có cồng chiêng quý hiếm để nâng cao trách nhiệm của gia đình trong việc gìn giữ cồng chiêng.

Để làm được những việc trên, bên cạnh ý thức của người dân, rất cần có sự quan tâm về mặt vật chất cũng như tinh thần từ nguồn đầu tư của nhà nước và kêu gọi xã hội hóa.

                                        TS. Nguyễn Thị Kim Vân

Chia sẻ cảm nhận của bạn