Về làng Chăm vui lễ hội dân gian Rija Nưgar

By Đồng Chuông Tử

NC News – Rija Nưgar là một nghi lễ dân gian truyền thống đầu năm theo Chăm lịch, thuộc vào loại nghi lễ lớn nhất, tự tên gọi của nó đã toác lên điều đó. Rija có nghĩa là lễ, nưgar là xứ sở. Rija Nưgar được hiểu là lễ của xứ sở.Bản thân nó là Tết, tựa Tết Nguyên Đán của dân tộc Kinh, chứa đựng hầu hết những ý nghĩa tốt đẹp mà tất cả cộng đồng mong muốn được phồn thịnh về mọi mặt trong cuộc sống. Sau này theo thời thế, phần hội được bổ sung, lắp ghép lồng vào mảnh cuối của nghi lễ, mang tính chất “vui là chính”. Lễ hội tiễn đưa và thánh tẩy năm cũ, đón mừng, có tổ chức hát ca chúc tụng năm mới, gắn với nghi thức tôn giáo long trọng, linh thiêng và man mác thiền vị. Nó còn là “cánh cửa” đầu tiên mở ra một năm mới may mắn, lí tưởng, thuận hoà trời đất. Vì vậy nó vô cùng quan trọng, có thể là quan trọng nhất.Từ sau thời điểm vương quốc Champa bị xoá sổ, cộng đồng Chăm ít quan tâm đến, nếu có quan tâm thì việc tổ chức không quy mô, đồng bộ, nhộn nhịp bằng; do vậy nghi lễ này,không “nổi danh” bằng lễ hội Katê tổ chức thường xuyên hằng năm vào đầu tháng bảy Chăm lịch.Ngày nay, các đề tài lấy Chăm làm đối tượng nghiên cứu thu hút, dẫn dụ những nhà nghiên cứu văn hoá trong và ngoài nước chiếm tỉ lệ ngày càng nhiều.Trong đề tài đó có lễ hội dân gian Rija Nưgar.

Về làng Chăm vui lễ hội dân gian Rija Nưgar (Ảnh: Sưu tầm)

 

Không gian – thời gian và quy mô của lễ hội

Dựa vào tên gọi, chúng ta có thể biết được quy mô của lễ hội, rộng khắp các làng Chăm, quy tụ cả hai bộ phận tôn giáo Chăm Bà la môn và Chăm Bà Ni, cùng tổ chức đón dự. Về không gian, do người Chăm sinh sống, phân lập theo đơn vị tên làng, tôn giáo nên công tác tổ chức, thời gian, địa điểm hành lễ cũng vin vào đó, mà khác nhau. Ví dụ, làng Mỹ Nghiệp, làng Ma Lâm, làng Văn Lâm,…

Bên cạnh đó, do ngày nay mỗi tôn giáo mỗi làng lại tính toán, sử dụng lịch theo nhiều cách, nhiều quan điểm nên có sự chênh lệch trước sau trong việc tổ chức lễ hội Rija Nưgar. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể phân định được căn cứ vào tôn giáo của các làng. Có một điểm chúng ta cần lưu ý là người Chăm không những sống theo làng, mà thú vị hơn là người Chăm còn sống theo làng của tôn giáo mình mang. Ví dụ, làng Chăm Mỹ Nghiệp, làng Chăm Ma Lâm là làng Chăm Bà la môn; làng Chăm Văn Lâm, làng Chăm Phước Nhơn là làng Chăm Bà Ni.

Điều đó, có khiến cho những du khách đến từ đất nước xa xôi, những bạn khác tộc trên mọi miền khi muốn đến tham quan, khám phá nét đẹp văn hoá, lễ hội của cộng đồng anh em Chăm trên hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận băn khoăn, trở ngại không?

Xin thưa rằng, mặc dù lễ hội tổ chức từng lịch riêng, theo làng tôn giáo như đã nêu ở trên, nhưng vẫn không sai biệt lắm, lễ hội vẫn nằm lọt thỏm vào hạn mức là trong một tuần thôi. Hoặc có vài làng Chăm ở Bình Thuận, cá biệt tổ chức lễ hội trong tháng giêng, bất kể ngày nào cũng được, nhưng phải là ngày tốt, theo quan niệm của tôn giáo.Thông thường, Chăm Bà Ni tổ chức vào thứ ba và thứ tư tuần đầu tháng giêng Chăm lịch; Chăm Bà la môn thì trong hai ngày, thứ năm và thứ sáu, cùng tuần đó. Sự trước và sau đó, như đã nói chỉ là sự sai biệt về cách áp dụng lịch.Tháng giêng theo lịch Chăm tương đương với tháng tư dương lịch. Cụ thể trong năm nay, ngày 28 và 29 tháng 4 dương lịch rơi vào ngày thứ ba và thứ tư tuần đầu tháng giêng Chăm lịch, các làng theo đạo Bà Ni đồng loạt tổ chữ lễ hội Rija Nưgar. Các làng theo đạo Bà la môn, tổ chức vào thứ năm và thứ sáu liền tiếp, tức ngày 30 tháng 4 và ngày 01/5 dương lịch. Đây là thời điểm nghỉ lễ của người dân thành phố Hồ Chí Minh, thuận tiện cho mọi người thích khám phá văn hoá của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, trong đó có dân tộc Chăm quen mà lạ, xa xôi mà gần gũi.

Địa điểm hành lễ và dựng rạp

Địa điểm hành lễ: Đây là lễ hội do cộng đồng làng đứng ra tổ chức, nên địa điểm hành lễ thường là ở nơi công cộng đầu làng.

Dựng rạp: Tại nơi công cộng đầu làng, vào ngày thứ ba đầu tháng (đạo Bà Ni) và thứ năm đầu tháng (Đạo Bà la môn), người ta phải dựng xong một cái rạp lễ ở một bãi đất trống từ sáng sớm. Rạp lễ làm bằng tre, gỗ, vải và lá. Rạp lễ dài khoảng 6,5 mét đến 7 mét; rộng 4 mét đến 4,5 mét; cao 2,5 mét đến 3 mét. Rạp lễ được dựng với 2 cây cột chính, 6 vì kèo, 1 đòn dông và 4 cây đòn tay bằng gỗ mới. Cửa ra vào của rạp lễ xoay về hướng đông. Hướng ngự trị của thánh thần theo quan niệm của người Chăm Bà la môn. Ba mặt tây, nam, bắc đều được chắn bằng tấm dừng đan bằng tre và che thêm lá chùm bầu. Riêng mặt phía tây che kín bằng liếp đan, bên trong thả xuống một tấm vải có vẽ nhiều hình dân gian như người, đền, tháp, thú vật…hoặc là vải trắng tượng trưng cho vòm trời.

Lễ vật và người chủ lễ

Lễ vật: Rạp lễ phía tây là nơi đặt lễ vật : Thôn Hala (loại cổ bồng có đựng lá trầu, xây thành ba tầng, trên mỗi tầng có đính hoa phượng ta, trên cùng là cây nến), bát lửa đốt trầm, nước lã, rượu, mái chèo và các lễ vật dâng cúng khác.

Tục ngữ Chăm có câu: vào gà ra ngạnh. Ở đây lễ hội Rija Nưgar phân định “ngày vào” và “ngày ra” rõ rệt. Đối với người Chăm Bà Ni, ngày vào là thứ ba; Chăm Bà la môn, ngày vào là thứ năm. Ngày vào thường làm thịt gà. Ngày ra của Chăm Bà Ni là thứ tư, Chăm Bà la môn là thứ sáu. Ngày ra thường làm thịt dê để dâng cúng. Ngoài ra, còn nhiều loại bánh tự làm theo kiểu Chăm, và trái cây miệt vườn đủ loại.

Trầm và nước cát lồi là hương liệu chủ yếu trong lễ, bên cạnh đó còn có bông phượng ta. Trầm để tẩy uế và xông thơm rạp lễ, làm tăng thêm không khí linh thiêng của lễ. Cát lồi là một loại đất giống đất sét, màu trắng, khi hoà trong nước lã, có thể tẩy sạch các vết bẩn. Người Chăm thường dùng cát lồi để làm phép tẩy uế trước khi vào rạp lễ hoặc thánh đường. Tắm tượng, tắm kút cũng phải dùng nước cát lồi.

Người chủ lễ: Chăm Bà la môn, chủ lễ là ông Mưdwơn gru (giỗ sư hay thầy vỗ) vừa điều khiển cuộc lễ vừa hát các bài ca lịch sử hay bài tụng ca, đồng thời vỗ trống baranưng đệm theo lời hát. Bên cạnh có một Mưdwơn khác phụ lễ.

Nhưng nhân vật trung tâm của cuộc lễ mới chính là Ong ka – ing, một vũ sư nhảy múa.

Chăm Bà Ni, chủ lễ là các ông Chan Imưm và ông Chan Katíp. Điểm cần lưu ý ở đây là người Chăm Bà Ni dựng đến hai rạp lễ chứ không phải là một rạp lễ như Chăm Bà la môn. Một rạp dành cho các ông Chan Imưm, Chan Katíp. Rạp còn lại do ông Mưdwơn và ông Kaing của láng Bà Ni cử hành lễ.

Các yếu tố trình diễn của lễ hội

Ngoài các yếu tố phụ như “sân khấu” (kajang) được dựng ngay đầu/trung tâm làng và đám đông luôn vỗ tay với tiếng ahei (hoan hô), ca-múa-nhạc là yếu tố trình diễn của lễ hội.

Trong suốt cuộc lễ, ông chủ lễ hát từ mười đến mười hai bài tụng ca hay bài ca lịch sử khác nhau. Các nhạc công, vũ sư đệm nhạc và biểu diễn theo tinh thần nội dung bài hát. Bài tụng ca này tiếp nối bài tụng ca kia tạo nên nét phong phú, đa dạng, xếp lớp lên nhau, đầy ắp nhịp cuồng vũ sôi nổi cảm xúc của các điệu nhạc, điệu múa.

Thử tìm hiểu nguồn gốc của lễ hội

Về nguồn gốc và thời gian xuất hiện của lễ Rija Nưgar, đến nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất. Có ý kiến cho rằng nó xuất hiện vào thế kỉ XVII dưới thời cai quản của Ngài Ppo Rome (1627-1651), thời vương quốc Champa đã có những giao lưu khăng khít với thế giới Mã Lai, vì xét thấy nó có nhiều điểm tương đồng với các lễ Rija Harei, Rija Praung với cùng vỏ bọc tên gọi.

Theo nhà nghiên cứu Inrasara, Rija Nưgar mang nhiều yếu tố bản địa, có thể đã có mặt ở vương quốc Champa sớm hơn rất nhiều. Bởi vì mặc dù có những tương đồng như cùng hát một số bài tụng ca như nhau, cùng một chủ lễ là ong Mưdwơn, ong Chan nhưng xét về tính chất, Rija Nưgar khác hẳn với các lễ trên.

Đó là những quan điểm về nguồn gốc lễ hội của các nhà nghiên cứu, tuy chưa thống nhất về thời điểm, gốc tích, nhưng một điều dễ nhận thấy là lễ hội Rija Nưgar mang tính dân tộc và đại chúng, được tổ chức định kì và được đông đảo quần chúng Chăm xem trọng.

Sách tham khảo:
Hải Liên,Vai trò âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm Ninh Thuận, Viện âm nhạc, NXB Âm Nhạc, 1999.
Inrasara, Văn hoá-xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại, NXB Văn học, 2008.
Văn Món, Các lễ hội Chăm, NXB.Văn hoá dân tộc, 2005.

Chia sẻ cảm nhận của bạn